Trong thời gian trị vì, vua Minh Mạng đã ba lần tổ chức tuần du vùng đất Quảng Nam vào các năm 1825, 1827 và 1831 [1]. Nhà vua coi Quảng Nam là địa bàn trọng yếu gần kinh kỳ có vị thế quốc phòng quan trọng, cần trực tiếp xem xét phong tục và địa thế sông biển [1]. Những chuyến đi này dẫn đến nhiều quyết định cải đặt địa danh, xây đắp thành lũy, lập hành cung và trùng tu hệ thống di tích cổ [1].
Ba lần tuần du Quảng Nam
Theo bài viết của tác giả Nguyễn Dị Cổ trên Báo Quảng Nam, vua Minh Mạng nhận định Quảng Nam là địa bàn gần kinh kỳ có đường sông biển dài, luôn canh cánh bên lòng nên cần ngự giá Nam tuần để nắm bắt núi sông, phong tục và vị thế phòng thủ bờ biển [1].
Lần tuần du thứ nhất diễn ra vào tháng 5 năm Minh Mạng thứ 6 (1825) [1]. Thuyền ngự của vua dừng ở bến Hóa Khuê, sau đó xa giá lên núi viếng thăm chùa Trang Nghiêm và Bảo Đài, quan sát các hang động cùng bia ký [1]. Tại đây, vua hạ lệnh dùng lễ thái lao để tế thần núi và ban thưởng tiền bạc cho các nơi cổ tích [1]. Khi đi qua đền Quan Công, vua cho 300 lạng bạc; qua đền Thiên Phi cho 100 lạng bạc; đồng thời ban tên Phúc Hải cho một ngôi chùa làng thuộc xã Hải Châu Chính và truyền làm biển ngạch cấp cho chùa [1].
Lần tuần du thứ hai vào năm 1827, vua đến kiểm tra đài Điện Hải và tiếp tục lên thăm núi Tam Thai [1]. Nhân dịp này, vua ban mỗi nơi 100 quan tiền cho chùa Bảo Quang (ở xã Đông Ba) và chùa Di Đà (ở xã Đông An) [1]. Hai ngôi chùa này được sắc dựng từ triều trước, từng bị bỏ hoang thời chiến sự Tây Sơn nhưng còn giữ hoành phi câu đối thếp vàng; sau khi dân địa phương tâu trình, vua sai thu cất các hiện vật đó [1].
Lần tuần du thứ ba vào năm 1831, vua Minh Mạng đến thị sát hoạt động của đài An Hải ở cửa biển [1].
Đặt tên thắng cảnh và lập hành cung
Từ các đợt ngự lãm thực tế, vua Minh Mạng đã cải đổi tên gọi hòn Non Nước thành danh xưng Ngũ Hành Sơn dựa theo dịch lý phương Đông [1]. Vua cũng trực tiếp đặt tên, cho khắc biển và dựng bia tại nhiều thắng tích trên núi như Vọng Giang đài, Vọng Hải đài, động Huyền Không, động Vân Thông, động Vân Nham, động Tàng Chân, động Lăng Hư, hang Vân Nguyệt và hang Vân Long [1].
Theo tác giả, 4 hành cung trên đất Quảng Nam có được từ kết quả ba lần tuần du, gồm: hành cung Đà Nẵng, hành cung Liên Trì (sau đổi tên thành Cam Giản rồi Cam Tuyền), hành cung Động Thiên Phúc Địa (trên núi Tam Thai) và hành cung Vĩnh Điện [1]. Sau lần tuần du thứ nhất, nhà vua ra lệnh đào lại sông Vĩnh Điện và sửa chữa tuyến đường bộ qua đèo Hải Vân [1]. Đến năm 1833, nhận thấy tỉnh thành cũ tại xã Thanh Chiêm thấp và hẹp, vua cho đo đạc dời tỉnh thành sang xây đắp tại địa điểm mới ở xã La Qua [1].
Xây đắp công trình phòng thủ
Vua Minh Mạng đặc biệt quan tâm đến việc bố phòng cửa biển [1]. Năm 1823, vua ra lệnh dời đài Điện Hải về phía nam hơn 50 trượng lên khu đất cao rộng hơn, khắc phục tình trạng sạt lở do sóng biển xói mòn từ thời Gia Long [1]. Triều đình cũng đặt thêm pháo đài Định Hải tại ngọn núi nhỏ phía đông trạm Nam Chân (tức vùng Nam Ô), gọi ngọn núi đó là núi Định Hải [1].
Năm 1830, triều đình khởi công đắp đài An Hải nằm đối diện bên kia sông với đài Điện Hải; công trình hoàn thành sau một tháng [1]. Đến tháng 11 năm 1830, vua cho dựng một tòa công quán ba gian hai chái ngay tại cửa biển Đà Nẵng, làm nơi hội bàn công vụ khi có phái viên triều đình phái đến hoặc tiếp xúc tàu ngoại quốc cập bến [1].
Trùng tu di tích và phụng tế lăng tẩm
Chỉ một tháng sau chuyến tuần du đầu tiên, vào tháng 6 năm 1825, vua Minh Mạng lệnh cho tu bổ các di tích chùa miếu bị hư hại trên núi Tam Thai [1]. Ban đầu vua xuất 3.000 quan tiền kho, sau đó 20 ngày xuất thêm 500 hộc lúa để chi trả nhân công [1]. Theo sách “Đại Nam thực lục”, việc trùng tu bao gồm hành cung Động Thiên Phúc Địa, chùa Tam Thai, chùa Trang Nghiêm, miếu Thiên Y A Na Diễn, chùa Ứng Chân, miếu Thượng Thành, chùa Từ Tâm, cùng các cổng Vân Căn Nguyệt Quật, Tam quan, Linh quan, sơn phòng và nghi môn [1].
Triều đình cử quan Thiêm sự Công bộ Nguyễn Công Liêu và viên quản lý Nội tạo Vương Hưng Văn đôn đốc công trình, tổng chi phí gồm 5.500 quan tiền kho, 500 hộc thóc, cùng 300 lạng bạc do Hoàng thái hậu ban thưởng [1]. Công việc hoàn thành sau hơn một năm; triều đình ban đồ thờ, chuông trống, tượng đồng, tượng vẽ và kinh Phật, đồng thời cắt cử 30 người dân hai xã Hóa Khuê Đông và Quán Khái làm nhiệm vụ thủ hộ và miễn việc sai dịch [1].
Đối với khu lăng mộ hoàng tộc ở xã Chiêm Sơn (trước 7/2025: huyện Duy Xuyên), nay thuộc xã Duy Xuyên, gồm lăng Vĩnh Diễn (nơi an táng bà Nguyễn thị – vợ chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và lăng Vĩnh Diên (nơi an táng bà Đoàn thị – vợ chúa Nguyễn Phúc Lan), vua lo ngại xa cách kinh sư dễ thiếu chu tất nên chỉ đạo quan địa phương vào tiết Thanh minh hằng năm phải trực tiếp kiểm tra lễ vật cúng tế, đồng thời cho tu bổ cột nêu gỗ răn cấm người dân lấn chiếm đất lăng [1].
Tra cứu liên quan
- Công trình quân sự: thành Điện Hải
- Thắng cảnh núi non: Ngũ Hành Sơn, đèo Hải Vân
- Chùa cổ: chùa Tam Thai
- Đường thủy: sông Vĩnh Điện
- Lăng tẩm hoàng gia: lăng Vĩnh Diễn
Điều còn chưa rõ
- Vị trí cụ thể trên thực địa ngày nay của tòa công quán ba gian hai chái dựng năm 1830 tại cửa biển Đà Nẵng [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Dấu tích của các ngôi chùa Bảo Quang xã Đông Ba và Di Đà xã Đông An sau khi triều đình thu hồi hoành phi câu đối [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí chính xác của pháo đài Định Hải tại khu vực Nam Ô [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Vua Minh Mạng với cổ tích Quảng Nam”, 18/06/2023, https://baodanang.vn/vua-minh-mang-voi-co-tich-quang-nam-3044625.html, truy cập 24/10/2026.