Đồng Nà nằm sát bờ nam sông Cổ Cò, trên dải cát có cồn và thềm sông nhấp nhô [1]. Các đợt thám sát ghi nhận gốm thô, gốm mịn, mảnh vò Hán và đồ sứ ở những lớp khác nhau, khiến địa điểm này được đặt trong mạch chuyển biến từ Sa Huỳnh muộn sang Chăm sớm [1].
Dải cát ven sông Cổ Cò
Hồ sơ mô tả Đồng Nà là vùng cát vàng gồm các cồn, doi, nổng cát và những bậc thềm sông. Sông Cổ Cò từng là tuyến giao thông nối thương cảng Hội An với Đà Nẵng, Cửa Đại và Cửa Hàn; nguồn ghi con sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam, song song với bờ biển khoảng một kilômét [1].
Trong đợt thám sát từ ngày 5 đến 8/11/1993, ba hố được bố trí trên ba bình độ từ thấp lên cao, tổng diện tích 14 m². Hố Đồng Nà I cách dấu vết bờ sông cổ khoảng 20 m về phía nam, rộng 2 x 2 m. Hố Đồng Nà II cách bờ sông khoảng 60 m, trên mặt bằng cao hơn hố I khoảng 40 – 50 cm, cũng rộng 2 x 2 m [1].
Những lớp đất và đồ gốm
Ở Đồng Nà I, lớp đất canh tác phía trên dày 20 cm, có hiện vật khác niên đại và nguồn gốc. Lớp tiếp theo lẫn cát màu rỉ sắt, có gốm thô, hơi thô và mịn; hiện vật thưa dần theo độ sâu. Từ khoảng 40 cm trở xuống là cát sinh thổ màu trắng đục, xen cát màu rỉ sắt [1].
Gốm thô và hơi thô có xương pha cát, bã thực vật, màu nâu đỏ hoặc xám, thường trang trí văn thừng. Tác giả nhận xét chất liệu và trang trí gần với gốm Sa Huỳnh và lớp dưới Trà Kiệu. Gốm mịn màu đỏ gạch non hoặc vàng có văn ô vuông; một số mảnh vò Hán cứng, gần như sành, cũng in văn ô vuông [1]. Lớp mặt còn có vỏ nhuyễn thể, gốm sứ Trung Hoa, Đại Việt và gạch vụn [1].
Ở hố Đồng Nà II, hồ sơ ghi chủ đất từng hạ bớt lớp đất mặt về phía bờ sông khi làm nhà. Bề mặt khi khảo sát có nhiều mảnh gốm thô, hơi thô và mịn [1]. Nguồn còn mô tả các hố ở những bình độ khác có tầng văn hóa mỏng nhưng khá ổn định, với hiện vật tương đối đồng nhất [1].
Niên đại và chuyển biến kỹ thuật
Qua so sánh sơ bộ với Trà Kiệu và Hậu Xá I – II, tác giả đặt một phần hiện vật Đồng Nà vào khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ III – IV sau Công nguyên. Gốm thô, hơi thô được nhận định có thể thuộc Sa Huỳnh muộn hoặc Chăm sớm; chính hồ sơ thừa nhận khó tách bạch hai nhóm [1].
Sự chuyển từ gốm hơi thô sang gốm mịn được xem là dấu hiệu thay đổi về chất liệu và kỹ thuật [1]. Các lớp trên ở gần chùa Vạn Đức có thêm gốm sứ Đại Việt, nhưng nguồn lưu ý đây có thể liên quan đến bối cảnh ngôi chùa được xây từ thế kỷ XVII, chứ không đại diện cho toàn bộ địa điểm [1].
Tra cứu liên quan
- Cụm khảo cổ: Trảng Sỏi, Bàu Đà, ruộng Đồng Cao
- Tổng quan: khảo cổ trong phố cổ Hội An
- Khu vực: sông Cổ Cò
Điều còn chưa rõ
- Tác giả ghi việc phân biệt gốm Sa Huỳnh muộn và Chăm sớm còn khó; nguồn chưa đưa ra tiêu chí phân loại đầy đủ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Mốc niên đại dựa trên so sánh hiện vật với di tích khác; bài nguồn không trình bày kết quả định tuổi tuyệt đối [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, “Di chỉ Đồng Nà”, 23/08/2013, https://hoianheritage.danang.gov.vn/vi/di-san-van-hoa/Di-tich-khao-co/di-chi-dong-na-112.html, truy cập 21/10/2026.