Nhà thờ tiền hiền làng An Sơn lưu ba bản sao sắc phong của các vua Duy Tân và Khải Định dành cho Nguyễn Công Liêu và con trai Nguyễn Công Tào. Câu chuyện lập làng được thuật lại qua gia phả, tư liệu kê biên và lời kể của người trông coi nhà thờ, chứ không phải một dòng thời gian đã được đối chiếu độc lập [1].
Từ Quá Giáng đến vùng Thắng Sơn
Theo gia phả các tộc họ An Sơn được bài báo dẫn, Nguyễn Công Khanh gốc làng An Dong, huyện Can Lộc, Nghệ An. Năm 1666, ông cùng anh trai và gia quyến vào khai khẩn, định cư ở làng Quá Giáng, nay thuộc khu vực xã Hòa Phước cũ [1].
Sau khi ổn định tại Quá Giáng, Nguyễn Công Khanh cùng con trai Nguyễn Công Chức rời đi tìm đất mới. Bài báo đặt vùng khai phá tại xã Thắng Sơn, tổng Thuận An, huyện Duy Xuyên cũ, nay thuộc khu vực Quế Sơn. Nguyễn Công Khanh mất tại đây; Nguyễn Công Chức cùng các thế hệ sau tiếp tục khai khẩn [1].
Lập làng An Sơn
Đến giữa thế kỷ 18, cháu nội Nguyễn Công Chức là Nguyễn Công Liêu cùng con trai Nguyễn Công Tào đi về phía tây bắc tìm đất. Theo bài báo, họ dừng chân ở vùng đất về sau gọi là An Sơn, nơi có địa hình bằng phẳng và đồi thấp bao quanh. Nguyễn Công Liêu mời các tộc Mai, Cao, Lê cùng những người di cư khác hợp sức khai khẩn [1].
Nguyễn Công Liêu được dân làng suy tôn là tiền hiền. Sau khi ông mất, Nguyễn Công Tào tiếp tục việc khai hoang. Tư liệu kê biên từ các tộc phổ ở vùng Sơn Hòa, tên cũ của xã Quế Thọ, ghi rằng các vị tiền hiền khai khẩn chín xứ, hơn 50 mẫu ruộng và lập ấp Xuân Sơn với 37 người [1]. Đây là số liệu theo tư liệu được bài báo trích, không phải thống kê dân số hiện đại.
Sắc phong và nhà thờ
Bài báo cho biết cả hai cha con được triều Nguyễn ban sắc với danh hiệu Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù. Hai sắc được vua Duy Tân ban cùng ngày, 8 tháng 10 năm thứ bảy, tức năm 1914; phần nội dung giống nhau, chỉ khác tên người nhận. Năm 1924, Nguyễn Công Tào còn được vua Khải Định ban sắc với danh hiệu Đoan Túc Tôn Thần, đồng thời chuẩn cho dân làng thờ tự theo điển lễ triều đình [1].
Nhà thờ tiền hiền được các tộc họ dựng vào những năm cuối thế kỷ 19. Công trình sụp đổ trong chiến tranh; sau năm 1975, người dân dựng lại bằng vật liệu đơn sơ. Năm 1982, nhà thờ được xây bằng gạch ngói với diện tích 18 m². Đến năm 2019, chính quyền và người dân xây lại kiên cố trên vị trí cũ [1].
Sau lần xây dựng năm 2019, các tộc họ cử người đến Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sao chụp sắc phong từ bản gốc. Ba bản sao hiện được lưu tại nhà thờ, theo lời ông Mai Văn Cưu, người quản lý và hương khói tại đây [1]. Có thể tìm hiểu thêm về xã Việt An, di dân vào Thăng Hoa, nhân vật xứ Quảng và bảng tra phường, xã Đà Nẵng.
Tra cứu liên quan
- Địa giới hiện nay: xã Việt An, quận, huyện cũ thuộc phường, xã nào
- Bối cảnh lịch sử: di dân vào Thăng Hoa, danh nhân xứ Quảng
- Địa danh: bảng tra phường, xã Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Bài báo giới thiệu An Sơn có lịch sử khoảng 250 năm, nhưng phần gia phả dẫn mốc di dân năm 1666 và việc lập làng vào giữa thế kỷ 18. Quan hệ giữa các mốc và cách tính tuổi làng chưa được giải thích [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Cần đối chiếu bản gốc sắc phong để xác nhận chính xác niên hiệu, ngày tháng và danh hiệu được chép trong bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Địa danh Quá Giáng hiện được mô tả theo tên xã cũ; cần xác định vị trí cụ thể sau sắp xếp [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam (nay Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng), “Làng An Sơn và hai cha con vị tiền hiền”, 3/4/2022, https://baodanang.vn/lang-an-son-va-hai-cha-con-vi-tien-hien-3234261.html, truy cập 23/10/2026.