Công trình

Đình Đại La: ngôi đình xây bằng đá chẻ dưới chân núi

Đình Đại La tọa lạc tại thôn Đại La, hiện thuộc địa bàn phường Hòa Khánh (trước 7/2025: xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang) [1]. Theo bài báo, những người cao tuổi trong làng kể lại rằng ngôi đình được dựng đầu tiên vào thời vua Quang Trung trong giai đoạn 1788 – 1792 [1]. Công trình mang nét riêng với tường bao và vách đình xây bằng đá chẻ bản địa, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố vào năm 2007 [1].

Quá trình lập làng và các lần dời đình

Theo tư liệu từ Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hòa Vang, ban đầu vùng đất này chưa có tên gọi riêng và chỉ có 17 hộ dân đến khai khẩn đất đai canh tác [1]. Đến khoảng thế kỷ 18, số cư dân tăng lên khoảng 50 hộ [1]. Vào khoảng cuối thế kỷ 18 dưới triều Tây Sơn, các ông Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Phi Dõng, Nguyễn Văn Huy và Nguyễn Văn Hay đứng ra lập làng, đặt tên là Đại La với danh xưng thời bấy giờ là xã Trung, tổng An Châu Thượng, huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn [1]. Bài báo ghi nhận con cháu tiền hiền họ Nguyễn truyền đến thời điểm viết bài là đời thứ 18, còn họ Trần là hậu hiền lưu giữ giấy tờ tại đình từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821) đến năm Khải Định thứ 9 (1924) [1].

Địa bàn thôn Đại La nằm ở vùng đồi núi, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về phía tây bắc và cách quốc lộ 1A khoảng 12 km từ ngã ba Hòa Minh [1]. Phía đông giáp khối phố Khánh Sơn của phường Hòa Khánh Nam cũ, phía tây giáp thôn Phú Hạ thuộc xã Hòa Sơn cũ, phía nam giáp núi Đại La cùng các thôn Phước Thuận, Phước Hậu của xã Hòa Nhơn cũ, phía bắc giáp núi Đại La [1]. Khu vực này có dải núi gò Nhà Thờ chạy dài hơn 2 km và 8 gò đồi xuất phát từ rìa chân núi Khê Đá, Dương Tranh gồm gò Khèng, gò Cửu, gò Bà Son, gò Hương Toán, gò Hóc Phú, gò Mối, gò Sòng và gò Bà Nồi [1]. Cư dân sinh sống quanh chân núi từ xưa chủ yếu làm nghề nông, về sau một số người chuyển sang làm công nhân khu công nghiệp [1].

Theo lời kể của các bậc cao niên địa phương, ngôi đình đầu tiên được dựng tại Gò Gia vào thời vua Quang Trung (1788 – 1792) bằng tranh tre với kết cấu 5 gian gọi là “5 gian tứ vị” [1]. Sau khi ngôi đình này hư hại, dân làng dời đến Cấm gò Giá dựng lại vào ngày 4/8/1802 khi vua Gia Long lên ngôi [1]. Đến năm Tự Đức thứ 18 (1865), đình bị đốt phá nên người dân chuyển đình về vị trí hiện nay [1]. Vào thời vua Hàm Nghi, dân làng lập thêm sở Âm Linh để tế tự những người mất thuộc các tộc tuyệt tự và nghĩa quân hy sinh vì nước [1].

Kiến trúc đá chẻ và hiện vật lưu giữ

Đình Đại La được xây dựng theo kiểu ba gian hai chái, mặt bằng có chiều dài 6,9 m và chiều rộng 10,1 m [1]. Điểm đặc biệt của công trình là tường đình được xây bằng đá chẻ dày 0,32 m, tận dụng nguồn đá sẵn có tại vùng núi địa phương [1]. Bên trong có 6 hàng chân cột với mỗi hàng 5 cột [1]. Cột cái cao 3,9 m có đường kính 22 cm; cột nhì cao 2,88 m đường kính 20 cm; cột ba cao 2,33 m đường kính 20 cm [1]. Mái đình lợp ngói âm dương, trên bờ nóc đắp nổi phù điêu “lưỡng long triều nguyệt”, bốn đầu bờ dải trang trí hình chim phụng và con lân [1].

Gian chính giữa đặt bàn thờ thần, phía trước có hương án bằng xi măng và đôi câu đối chữ Hán: “Hữu nghiêm chiêm giả khởi kính/ Thường hưởng tại vu khắc thành”, với nghĩa kẻ chiêm ngưỡng một cách nghiêm trang thì dấy lòng kính trọng, thần linh thường hưởng sự phụng tế ở lòng thành [1]. Hai bên tả ban và hữu ban là nơi thờ các vị tiền hiền và hậu hiền [1]. Sân đình có chiều dài 12 m, rộng 14,3 m, được bao quanh bởi bức tường xây bằng đá chẻ cao khoảng 0,7 m [1]. Cổng vào đình làm theo lối mái hai tầng có đắp nổi hình linh thú [1].

Trải qua các đợt di dời và hỏa hoạn, đình Đại La hiện còn lưu giữ được 15 đạo sắc phong cùng hộp đựng bằng gỗ và một khám thờ bằng gỗ [1]. Trong số đó, sắc phong sớm nhất có niên đại từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821) và sắc phong muộn nhất ban hành vào năm Khải Định thứ 9 (1924) [1].

Tế tự và sinh hoạt cộng đồng

Hằng năm, đình làng Đại La duy trì ba dịp lễ giỗ chính tính theo âm lịch [1]. Ngày 24 tháng Giêng là ngày vía Bà Chúa Ngọc [1]. Lễ cầu an được tổ chức vào ngày 12 tháng 3 [1]. Đến ngày 12 tháng 4 âm lịch, dân làng tiến hành lễ kỵ tiền hiền kết hợp giỗ âm linh [1].

Trước đây, mỗi dịp cúng tế dân làng đều cử hành đầy đủ các nghi thức cổ truyền như rước sắc, rước kiệu, xướng đọc văn tế và mở hội vui chơi cộng đồng [1]. Về sau, do điều kiện kinh tế của cư dân, các nghi lễ này được tổ chức gọn gàng hơn nhưng ngôi đình vẫn giữ vai trò trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và ghi nhớ công đức tiền nhân của làng Đại La [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Niên đại khởi dựng vào thời Quang Trung (1788 – 1792) và tên gọi 5 gian tứ vị chỉ dựa theo lời kể truyền khẩu của các cụ cao tuổi trong làng, chưa có văn bia hay tài liệu thành văn xác thực [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Nguyên nhân và đối tượng cụ thể gây ra vụ đốt phá ngôi đình vào năm Tự Đức thứ 18 (1865) chưa được bài báo ghi rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Vị trí cụ thể của sở Âm Linh lập thời vua Hàm Nghi hiện còn dấu tích hay đã sáp nhập vào khuôn viên đình hiện tại chưa được nguồn mô tả chi tiết [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Di tích văn hóa, lịch sử Hòa Vang: Đình Đại La nơi lưu giữ văn hóa cộng đồng dân cư địa phương”, 24/10/2023, https://baodanang.vn/di-tich-van-hoa-lich-su-hoa-vang-dinh-dai-la-noi-luu-giu-van-hoa-cong-dong-dan-cu-dia-phuong-3236396.html, truy cập 23/10/2026.