Đình Phương Hòa tọa lạc tại khối phố Phương Hòa Đông, thuộc phường Bàn Thạch (trước tháng 7/2025 thuộc phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ) [1]. Ngôi đình gắn liền với làng nghề làm bún tươi truyền thống Phương Hòa và còn lưu dòng chữ Hán ghi năm tạo lập dưới thời vua Minh Mạng [1][2]. Năm 2005, công trình được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh [1][2].
Lịch sử di dời và các xứ đất cổ
Từ trung tâm Tam Kỳ đi theo Quốc lộ 1A về hướng bắc khoảng 4 km, rẽ trái từ Nhà thờ Tin Lành Phương Hòa theo đường bê tông vào làng khoảng 1 km là tới đình Phương Hòa [1]. Theo lời kể của các vị cao niên, ban đầu đình được dựng trên một khu đất cao tại xứ Bàu Môn [1]. Sau đó, do vị trí đình nằm gần suối nước chảy và có quan niệm cho rằng đình bị ảnh hưởng long mạch khiến dân làng làm ăn gặp khó khăn, dân làng đã dời đình xuống khoảng 500 m về phía cuối làng [1].
Tại vị trí mới này, phía trước đình có một ao nước sâu giữ nước quanh năm và có thể dùng để tưới cho mẫu ruộng hương điền kế bên [1]. Khuôn viên đình lúc đó trồng 3 cây cóc và dựng một bức bình phong bằng vôi đá [1]. Về sau, đình lại được di dời lần thứ hai sang khu đất cao thuộc ấp Hòa Tây cũ (vẫn thuộc xứ Bàu Môn), kết hợp cùng miếu thờ Thành hoàng ở phía bắc, chùa làng ở phía nam và một ngôi miếu lân cận [1].
Khi chuyển về tọa lạc tại xứ Tro Xá bên trường Phương Hòa (khối phố Phương Hòa Đông hiện nay), đình từng là một quần thể gồm cổng tam quan, tường thành bao bọc, nhà ba gian hai chái và nhà trù [1]. Văn tế lễ của làng còn bảo lưu những tên xứ đất cổ mang âm sắc tiếng Chăm như Tro Vưng, Tro Kiếu, Tro Xá, Trà Nao, Bà Lai La [2]. Dân gian địa phương cũng lưu truyền hình ảnh “đứng đầu con nghê” để chỉ ranh giới định cư của lưu dân người Việt [2]. Quanh khu vực đình Phương Hòa còn có dấu tích kiến trúc Chăm, chùa miếu và Văn Thánh Khổng miếu [2].
Kiến trúc gỗ mít của thợ mộc Vân Hà
Đình Phương Hòa là công trình bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bố cục mặt bằng hình chữ Nhất (一) gồm 3 gian 2 chái do những người thợ làng mộc Vân Hà thi công [1]. Toàn bộ khung nhà chịu lực trên 30 cột gỗ mít kê trên các tảng đá [1]. Theo hàng dọc, các cột được sắp xếp khoảng cách theo thước Lỗ Ban: ba gian giữa rộng đều nhau 2,85 m, còn hai gian chái mỗi gian rộng 1,85 m [1].
Mặt cắt ngang của đình gồm 5 hàng cột: 2 cột cái, 2 cột quân và 1 cột hiên [1]. Hệ khung liên kết bằng vì kèo giao nguyên và lối kẻ chuyền tam kèo [1]. Đầu các vì kèo chạm khắc hoa lá cách điệu, đuôi trính chạm đầu rồng, phía trên trính đặt trụ đội trên đấu liên kết với kèo nóc thông qua xà cò (đòn đông hạ) [1].
Dưới mặt đáy cây đòn đông hạ còn khắc dòng chữ Hán: “Minh Mạng thập nhị niên, tứ nguyệt, kiến nhật tạo lập”, xác nhận đình được tạo lập vào ngày lành tháng 4 năm Minh Mạng thứ 12 [1]. Bài viết trên Báo Đà Nẵng năm 2015 cũng ghi nhận đình dựng từ thời vua Minh Mạng, vào khoảng năm 1832 – 1833 [2]. Qua thời gian, kiến trúc đình có thêm thay đổi như cột hiên được gá thêm trụ gạch trát xi măng, nền hiên được nâng cao ngang bằng mặt nền bên trong và xây tường bao bảo vệ [1].
Thờ tự và gắn bó với Xóm Bún
Đình là nơi thờ tự vị tiền hiền họ Võ và hậu hiền họ Trần [2]. Theo lời kể truyền lại, tướng thần Võ Đình Thông lập ra làng An Hòa (về sau đổi thành Phương Hòa), sinh bốn người con đặt tên theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông [2]. Về sau, người con tên Xuân ở lại làng cũ, còn ba người kia tản cư ra vùng Duy Xuyên và lên Tiên Phước [2].
Bên cạnh tiền hiền và hậu hiền, đình Phương Hòa còn thờ phụng ông Đỗ Dột, người được coi là tổ nghề bún tươi của làng và có vợ là người làng Cẩm Sa thuộc vùng Điện Bàn [1][2]. Từ khi nghề làm bún tươi phát triển, phần lớn các hộ dân trong làng đều làm bún song song với nghề nông, khiến làng Phương Hòa có tên gọi dân gian là Xóm Bún [1].
Đình là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng làng qua các dịp tế lễ xuân thu nhị kỳ, lễ cúng đình và cúng xóm vào dịp Tết đến xuân về [1]. Trong thời kỳ kháng chiến, nơi đây từng được chọn làm địa điểm tổ chức hội phụ lão cứu quốc [2]. Tháng 2/2005, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ra quyết định xếp hạng đình Phương Hòa là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh [1][2].
Tra cứu liên quan
- Địa bàn lân cận: phường Bàn Thạch, phường Tam Kỳ
- Đình làng và di tích cùng khu vực: đình Hương Trà, địa đạo Kỳ Anh
- Địa danh liên quan đến dòng họ và tổ nghề: phường Điện Bàn, xã Duy Xuyên, xã Tiên Phước
Điều còn chưa rõ
- Năm cụ thể của các lần dời đình từ xứ Bàu Môn sang ấp Hòa Tây rồi về xứ Tro Xá; nguồn tư liệu chỉ ghi nhận qua lời kể dân gian [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên điểm bảo vệ di tích: bài báo năm 2021 ghi đình được xếp hạng cấp tỉnh vào tháng 2/2005, trong khi bia đăng ký bảo vệ di tích ghi năm 1999 [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm dương lịch ứng với năm Minh Mạng thứ 12 khắc trên đòn đông chưa được nguồn quy đổi; bài báo năm 2015 ghi khoảng năm 1832 [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Ngôi đình cổ ở Xóm Bún”, 30/05/2021, https://baodanang.vn/ngoi-dinh-co-o-xom-bun-3233528.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Hồn xưa trong phố trẻ”, 19/02/2015, https://baodanang.vn/hon-xua-trong-pho-tre-3029143.html, truy cập 23/10/2026.