Đình làng Phúc Khương tọa lạc tại thôn 8, xã Vu Gia (trước 7/2025 thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc), đón nhận bằng xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2018 [1]. Theo bài báo, ngôi đình có lịch sử “gần 400 năm”, gắn liền với quá trình khai phá vùng đất ven sông Vu Gia [1]. Sau nhiều biến cố thiên tai và chiến sự, ngôi đình hiện tại được trùng tu vào năm 2014 trong một khuôn viên văn hóa cộng đồng [1].
Lịch sử lập làng và các lần dời đình
Theo bài báo, làng Phúc Khương hình thành từ một vùng hoang vu bên bờ sông Vu Gia cách đây hơn 700 năm [1]. Vùng đất này có nhiều tên gọi qua các thời kỳ: thời Hồng Đức mang tên Phước Khang; đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu đổi thành Phúc Khương, thuộc tổng Phú Mỹ, phủ Duy Xuyên [1]. Về sau, làng thuộc thôn 8, xã Đại Minh [1]. Thời kỳ chiến tranh, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên thành làng Mỹ Hiệp, xã Lộc Phước [1]. Sau năm 1975, tên làng được khôi phục là làng Phúc Khương, thuộc xã Đại Cường cũ [1].
Gia phả các tộc Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn và bia lịch sử của đình ghi nhận cha ông di cư từ Nghệ An, Thanh Hóa vào khai phá đất đai [1]. Theo gia phả họ Nguyễn Hữu, tính đến thời điểm bài báo đăng tải năm 2018, đã trải qua 500 năm tổ tiên di cư vào vùng đất Phước Cổ xưa để lập các làng Phước Khang, Phúc Khương, Phúc Mỹ, Phúc Yên và thôn Mỹ Phiếm [1].
Các bô lão trong làng cho biết ngôi đình từng trải qua nhiều lần di dời do thiên tai và chiến sự [1]. Thời Vĩnh Trị thứ 4, đình mang tên theo làng là Phước Khang, tọa lạc tại xứ đất cây Sung [1]. Đến thời Gia Long thứ 7 (bài báo ghi năm 1809), ngôi đình nằm sát sông Vu Gia thuộc làng Mỹ Phiếm (theo bài báo là thôn 10, xã Đại Cường cũ) bị lũ cuốn trôi hoàn toàn [1]. Năm Gia Long thứ 11 (bài báo ghi năm 1813), đình được tái thiết lần thứ hai tại xứ đất cây Sung trên khuôn viên rộng 2 ha [1].
Kiến trúc năm 1813 và lần trùng tu năm 2014
Theo tư liệu của làng, ngôi đình dựng năm 1813 làm bằng gỗ theo kết cấu 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, tường vôi [1]. Bên tả có đền Thành hoàng và miếu Quan Thánh; bên hữu có nhà hội lớn làm nơi sinh hoạt và dạy học cho con cháu bốn làng: Phúc Khương, Phúc Mỹ, Phúc Yên và Mỹ Phiếm [1]. Đình có hậu tẩm cao hơn gian thờ giữa để thờ Càn Khôn, giữa hậu tẩm và gian giữa là Thiên quang tỉnh (giếng trời) [1]. Đình quay mặt về hướng tây nam, phía trước là đất canh tác, cách 300 m có rừng tre cấm kéo dài đến một bàu nước có mạch sâu không bao giờ cạn [1].
Sau năm 1975, kiến trúc đình chỉ còn lại mảnh vỡ tấm minh bia được triều đình sắc phong [1]. Dân làng tái thiết đình lần thứ ba vào năm 1996 [1]. Đến năm 2014, đình được xây dựng lại trên diện tích 1.000 m² tại khu vườn cũ của ông Nghè Học, nằm trong quần thể Khu văn hóa – thể thao cộng đồng, với kinh phí 1,5 tỷ đồng do người dân và con cháu xa quê đóng góp [1].
Dấu ấn trong các thời kỳ lịch sử
Năm 1908, đình làng Phúc Khương là một trong những điểm xuất phát ủng hộ cuộc đấu tranh chống sưu thuế nổ ra từ thôn Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa cũ (xem đình Phiếm Ái) [1]. Năm 1944, đình là nơi tổ chức phong trào, dạy học chữ quốc ngữ và phong trào thanh niên Phan Anh; cờ búa liềm lần đầu tiên xuất hiện tại cây bàng đầu làng trong năm này [1]. Ngày 6/1/1946, đình được sử dụng làm điểm bầu cử Quốc hội cho cử tri trong khu vực [1].
Trong giai đoạn 1967 – 1971, đình và làng là địa bàn đóng quân của các cơ quan thuộc Huyện ủy Đại Lộc và Ủy ban Mặt trận giải phóng dân tộc huyện [1]. Làng là căn cứ lõm của cách mạng, ngôi đình bị bom của quân Mỹ thiêu rụi, khu đất bị cày xới và bờ sông sạt lở [1]. Theo số liệu bài báo nêu tính đến tháng 4/1975, làng có 85 liệt sĩ, 8 thương bệnh binh, 127 gia đình có công với cách mạng và 17 Bà mẹ Việt Nam anh hùng [1].
Đời sống tín ngưỡng của làng
Theo ông Nguyễn Tấn Xuân, Chủ tịch Hội đồng tộc biểu làng Phúc Khương, làng có 32 tộc với hơn 3.000 nhân khẩu, duy trì Hội đồng tộc biểu để gắn kết các tộc họ và điều hành việc làng [1]. Theo ông Nguyễn Hữu Mai, cán bộ hưu trí ở địa phương, đình làng duy trì các nghi lễ: lễ thượng nêu ngày 25 tháng Chạp âm lịch, lễ đón giao thừa mùng 1 tháng Giêng, lễ hạ nêu mùng 7 tháng Giêng, lễ vía Ngọc hoàng Thượng đế tại đền Thượng và miếu Quan Thánh vào mùng 9 tháng Giêng, lễ kỳ yên ngày 15 tháng Giêng [1].
Vào ngày 23 tháng 6 âm lịch có lễ giỗ Tiền hiền và các vị thủy tổ; ngày 15 tháng 7 âm lịch có lễ giải oan; ngày 15 tháng 10 âm lịch có lễ cúng Thần nông; cùng các dịp lễ sóc vọng trong năm [1]. Theo đại diện UBND xã Đại Cường cũ, trên địa bàn có hai di tích cấp tỉnh là mộ chí sĩ Đỗ Đăng Tuyển (xếp hạng năm 2005) và đình làng Phúc Khương (xếp hạng năm 2018) [1].
Tra cứu liên quan
- Địa giới: xã Vu Gia, xã Đại Lộc, bảng tra phường xã, quận huyện cũ thuộc phường xã nào
- Di tích lân cận: đình Phiếm Ái, mộ Đỗ Đăng Tuyển
- Địa lý: sông Vu Gia
Điều còn chưa rõ
- Các con số “hơn 700 năm” lập làng, “500 năm” di cư và “gần 400 năm” lịch sử đình được ghi theo bài báo và gia phả tộc họ, chưa có hồ sơ khảo cổ đối chiếu độc lập [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Quy đổi niên hiệu: theo cách tính thông thường, năm Gia Long thứ 7 là 1808 và năm Gia Long thứ 11 là 1812, lệch một năm so với các năm 1809 và 1813 mà bài báo ghi kèm [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm dựng đình lần đầu được bài báo ghi vào thời Vĩnh Trị thứ 4; cần văn bản hồ sơ di tích để xác định năm dương lịch tương ứng [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Nội dung chi tiết trên mảnh vỡ tấm minh bia được triều đình sắc phong còn sót lại sau chiến tranh chưa được bài báo ghi nhận [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Đình làng Phúc Khương: Lan tỏa giá trị truyền thống, nhân văn”, 03/08/2018, https://baodanang.vn/dinh-lang-phuc-khuong-lan-toa-gia-tri-truyen-thong-nhan-van-3027965.html, truy cập 23/10/2026.