Địa danh

Làng Aur

Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà
Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Làng Aur là điểm cư trú của cộng đồng người Cơ Tu vùng cao (trước 7/2025: xã A Vương, huyện Tây Giang), nay thuộc xã Avương [1][2]. Khu dân cư này nằm trong vùng lõi khu bảo tồn Sao La giữa dãy Trường Sơn [1]. Làng duy trì các tập quán lâu đời về sinh hoạt cộng đồng, canh tác nương rẫy và tiếp đón khách vãng lai [1][2][3].

Vị trí và đường đi

Làng Aur nằm tách biệt giữa rừng già, thuộc địa giới hành chính xã A Vương cũ của huyện Tây Giang, nay là xã Avương [1][2]. Ba bài báo ở các thời điểm khác nhau ghi nhận thông tin về đường tiếp cận làng như sau:

  • Theo bài viết năm 2014 trên Báo Quảng Nam, từ điểm gửi xe máy ở thôn Aréc cách đường Hồ Chí Minh khoảng một cây số, người đi bộ phải vượt hơn 20 km đường rừng men theo các triền dốc và vực sâu mất gần 6 tiếng đồng hồ để đến làng [2].
  • Theo bài viết năm 2021 trên Báo Quảng Nam, đường mòn vào làng quanh co qua sườn núi và các vực sâu, mất vài giờ đi bộ; các lối đi được người dẫn đường đánh dấu hướng trên các thân cây lớn để nhận diện [3].
  • Theo bài viết tháng 6/2025 trên Báo Quảng Nam, sau khoảng 3 giờ đi xe ô tô từ vùng đồng bằng lên xã A Vương cũ, người đi bộ thêm khoảng 6 tiếng xuyên rừng [1]. Riêng đoạn từ một đỉnh núi xuống trung tâm làng mất 3 giờ 40 phút, qua chặng đường 15 cây số và nhiều con suối [1].

Dọc hành trình vào làng, các bài báo năm 2021 và 2025 ghi nhận một vị trí đồi cao được gọi là “đồi hứng sóng”, nơi người đi có thể nhận được sóng điện thoại di động trước khi đi sâu vào vùng không có sóng [1][3]. Đến năm 2021, trong làng xuất hiện một quán cà phê bắt được sóng điện thoại chập chờn [3]. Dân làng dùng hệ thống đèn năng lượng mặt trời để chiếu sáng ban đêm [3]. Trước khi vào làng, người dẫn đường địa phương dặn dò khách không đem theo đồ nhựa dùng một lần và không mang thực phẩm công nghiệp vào tặng dân bản [1].

Lịch sử di chuyển và cư dân

Theo lời kể của già làng Bh’ling Trên ghi lại năm 2014, gốc tích của làng Aur ở vùng Pà Xuông, thuộc xã Ba cũ (nay thuộc địa bàn xã Sông Vàng) [2]. Sau một sự việc đau thương trong trò chơi trẻ em mô phỏng lễ hội đâm trâu, hội đồng làng quyết định di dời để xoa dịu mất mát [2]. Khi đó, một nửa số dân di chuyển về phía núi Aur, nửa còn lại vượt dốc Gió ở xã Sông Kôn cũ (nay thuộc xã Sông Kôn) sang huyện Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế [2].

Sau vài năm ở nơi mới, vì gặp các trường hợp “chết xấu”, nhóm dân ở Aur tiếp tục dời sang sáp nhập với bộ phận ở Nam Đông [2]. Khoảng mười năm sau, họ trở về vùng bình nguyên gần nơi ở cũ dựng nhà [2]. Do gặp tình trạng thiếu lương thực, dân làng tiếp tục trải qua hai lần dời đổi chỗ ở nữa trước khi dừng chân tại vị trí hiện tại của làng Aur [2].

Tại thời điểm năm 2014, Báo Quảng Nam ghi nhận làng Aur có 22 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu [2]. Đa phần cư dân là người Cơ Tu [2]. Bài báo cũng kể gần đây làng đồng ý cho một người Kinh quê Tiên Phước vào sống, là người Kinh duy nhất trong làng; ông được dân bản chia đất dựng nhà, chia lúa rẫy và gọi thân mật là “azây Sanh” [2]. Chính quyền địa phương từng nhiều lần vận động người dân ra định cư gần trục đường giao thông, nhưng đồng bào chọn gắn bó với nương rẫy và khu rừng hiện hữu [2].

Tập quán sinh hoạt và nếp sống cộng đồng

Đời sống của cư dân làng Aur dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tự nhiên và kinh tế tự cấp tự túc [3]. Cư dân canh tác lúa rẫy, bắp, gừng, sắn, lấy mật ong rừng, đánh bắt cá suối và thu hái rau rừng [1][2][3]. Trong việc làm nương, bà con áp dụng lối luân canh đất rẫy, canh tác một thời gian rồi để đất nghỉ ngơi hồi phục dinh dưỡng trước khi quay lại gieo trồng [1].

Người làng Aur nuôi heo ở một khu chăn nuôi tập trung, cách nơi ở gần nửa giờ đi bộ; theo lời người dân, cách làm này vừa để heo đỡ phá, vừa để không gian sống không bị bẩn [1].

Cộng đồng duy trì tập quán đón tiếp khách vãng lai gọi là tục “nuôi khách” hay “nuôi chung” [1][2]. Khi có khách lạ đến, người dân mời khách về nghỉ ở nhà gươl [1][2]. Già làng thông báo số lượng khách để các gia đình luân phiên mang thức ăn đến thết đãi, gồm cơm nếp, sắn, cá nướng, canh rau rừng hoặc thịt rừng [1][2][3]. Nếu khách lưu trú từ hai đêm trở lên, dân làng cùng chung tiền mua heo làm thịt; khách ở lại lâu hơn thì khoảng hai, ba người “theo” một gia đình để gia đình đó chăm sóc [1].

Bên cạnh tục tiếp khách, dân làng duy trì tinh thần tương trợ lẫn nhau [2]. Năm 2010, khi xảy ra đợt dịch thổ tả, một người phụ nữ trong làng là chị Bhơriu Thị Non đã lên rừng hái các loại lá thuốc về đun nấu chữa khỏi cho các trường hợp mắc bệnh [2]. Cùng khoảng thời gian đó, khi một người mẹ tái giá bỏ lại bốn con nhỏ, các gia đình trong làng đã cùng góp lương thực nuôi nấng các cháu ăn học tại gia đình anh Alăng Mê [2]. Những lúc nông nhàn, người già và đàn ông trong làng thường tập trung tại nhà gươl để đan gùi, vót tre và hát các làn điệu dân ca Cơ Tu [2][3].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Số hộ gia đình và tổng số nhân khẩu cụ thể của làng Aur vào các năm 2021 và 2025; các bài báo giai đoạn này không nhắc lại con số thống kê sau mốc 22 hộ năm 2014 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại cụ thể của từng đợt di dời làng từ vùng Pà Xuông đến địa điểm hiện nay, nguồn tư liệu chỉ ghi chép qua ký ức dân gian của già làng [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tình trạng đầu tư đường giao thông xe cơ giới và lưới điện quốc gia tới làng tính đến năm 2026 [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Aur ngôi làng của những điều tử tế”, 11/06/2025, https://baodanang.vn/aur-ngoi-lang-cua-nhung-dieu-tu-te-3156476.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Quảng Nam, “Những ngôi làng trong rừng già – Bài 1: Aur, làng của thần rừng”, 25/08/2014, https://baodanang.vn/nhung-ngoi-lang-trong-rung-gia-bai-1-aur-lang-cua-than-rung-3115896.html, truy cập 23/10/2026.
  3. Báo Quảng Nam, “Bình yên làng Aur”, 18/12/2021, https://baodanang.vn/binh-yen-lang-aur-3042983.html, truy cập 23/10/2026.