Năm 2019, cả nước có 74.173 người Cơ Tu [1]. Trước khi Quảng Nam nhập vào Đà Nẵng, họ đã là dân tộc thiểu số đông nhất của thành phố cũ [2]. Từ 1/7/2025, phần lớn vùng núi nơi họ sống, gồm Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang, cũng thuộc Đà Nẵng.
Tên gọi và tiếng nói
Người Cơ Tu tự gọi mình là Cơ Tu; tài liệu cũ còn viết Ca Tu hoặc Ka Tu [1]. Tiếng của họ thuộc nhóm Môn-Khơ Me trong ngữ hệ Nam Á, gần với tiếng Tà Ôi và Bru-Vân Kiều [1]. Trước năm 1975 đã có chữ viết dùng chữ cái La-tinh để ghi âm, nhưng nay ít người dùng [1].
Sống ở đâu
Theo Bộ Dân tộc, người Cơ Tu ở lâu đời vùng núi tây bắc Quảng Nam và tây nam Thừa Thiên Huế, nối liền với vùng người Cơ Tu bên Lào [1]. Ở Quảng Nam cũ, các làng Cơ Tu tập trung ở ba huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang [3]. Sau sáp nhập, đất ấy thuộc các xã như Tây Giang, Đông Giang, Sông Kôn và Nam Giang của Đà Nẵng.
Trong ranh giới Đà Nẵng cũ, người Cơ Tu sống ở huyện Hòa Vang. Theo điều tra dân số 2019, số người Cơ Tu ở Hòa Vang là 1.325, bằng 29,8% tổng số người dân tộc thiểu số của thành phố khi ấy [2]. Hai thôn Tà Lang và Giàn Bí (trước 7/2025 thuộc xã Hòa Bắc, nay thuộc phường Hải Vân) còn giữ nhà gươl; nguồn và chi tiết ở bài nhà gươl.
Làng và nhà gươl
Làng là đơn vị tự quản theo tập tục, đứng đầu là già làng [1]. Theo lối cũ, các nhà trong làng dựng thành vòng, quây quanh khoảng sân giữa; ở đó có ngôi nhà chung cao và đẹp nhất là gươl [1]. Bài riêng: nhà gươl Cơ Tu.
Một già làng ở xã Lăng (Tây Giang) giải thích “gươl” trong tiếng Cơ Tu có nghĩa là công cộng, cộng đồng [4]. Lễ mừng lúa mới, lễ kết nghĩa giữa hai làng và cả đám tang đều làm ở gươl [4]. Năm 2021, báo Sài Gòn Giải Phóng viết rằng 100% làng ở huyện Tây Giang đã có nhà gươl [3].
Nhà ở thường ngày là nhà sàn dài, hai đầu hồi uốn khum như mai rùa. Xưa kia nhiều cặp vợ chồng, thường là gia đình của các anh em trai, ở chung một nhà; mỗi cặp với con mình là một “bếp” có phần không gian riêng [1].
Con trâu
Trâu là của cải, là vật hiến tế lớn nhất trong các lễ của làng [1]. Lễ đâm trâu và lễ “dồn mồ” là hai lễ lớn nhất [1]. Trong nhà gươl, hình đầu trâu được chạm ở chỗ trang trọng nhất: tấm gỗ ở lối vào, ba tấm ván vách, đầu cột và chân cột; chim, rắn và các con vật khác chỉ được chạm ở chỗ phụ [3]. Hình trâu còn có trên quan tài ở nhà mồ [3].
Làm ăn, ăn mặc
Họ làm rẫy là chính: phát cây, đốt, chọc lỗ tra hạt, mỗi năm một vụ, vài vụ lại bỏ hoá một thời gian dài [1]. Đan lát có ở khắp nơi; dệt vải và làm gốm chỉ có ở một số làng gần biên giới [1]. Về nghề dệt ngày nay, xem dệt thổ cẩm Cơ Tu. Đàn ông có loại gùi ba ngăn gọi là gùi cánh dơi [1].
Bộ y phục được chuộng nhất là vải dệt nền đen có hoa văn bằng chì, sau đó là hoa văn bằng cườm trắng [1]. Đàn ông quấn khố, đàn bà mặc váy ống [1]. Báo Văn hóa viết nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia [5].
Người Cơ Tu ưa các món nướng, ướp hoặc ủ trong ống tre. Rượu có rượu mía, rượu gạo, rượu sắn, và rượu tà-vạk chế từ một loại cây rừng họ dừa [1].
Lễ hội và nghệ thuật
Trong lễ hội, nữ múa dạ dạ, nam múa tung tung [1]; báo chí thường gọi chung là múa tung tung da dá [5]. Nhạc cụ thường gặp là bộ chiêng ba chiếc, một cồng, trống, sáo, đàn, nhị [1]. Phụ nữ giỏi dệt hoa văn; đàn ông giỏi điêu khắc ở nhà mồ và nhà gươl [1].
Tết của làng xưa ăn vào khoảng tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, sau mùa tuốt lúa; nay nhiều nơi ăn Tết cùng dịp Nguyên đán [1].
Ngày 20-21/9/2025, xã Sông Kôn (nơi có làng Bhơ Hôồng) tổ chức Ngày hội văn hóa truyền thống Cơ Tu lần thứ I, lễ hội lớn đầu tiên ở đây sau sáp nhập [5]. Chương trình có múa tung tung da dá, lễ kết nghĩa Pơr ngooch, nói lý hát lý, thi bắn nỏ và đi cà kheo [5]. Xã có làng du lịch cộng đồng Bhơ Hôồng [5].
Đồ uống riêng: rượu tà vạt và rượu cây rừng, lấy nước từ thân cây trên núi. Trái rừng mùa thu: bòn bon (người Cơ Tu gọi tơ-boon).
Điệu múa của người Cơ Tu: tâng tung da dá.
Đọc thêm
Hai thôn Cơ Tu ở Hòa Bắc cũ: [Tà Lang, Giàn Bí](/nguoi-co-tu-hoa-bac/). Láng giềng ở miền núi phía tây: [người Giẻ Triêng](/nguoi-gie-trieng/), [người Ca Dong](/nguoi-ca-dong/), [người Co](/nguoi-co-tra-my/).
Bài riêng về phong tục, nghệ thuật Cơ Tu: lễ ăn trâu, lễ mừng lúa mới, nhạc cụ và cồng chiêng, điêu khắc gỗ.
Món ăn miền núi: đọt mây rừng.
Phong tục và giữ rừng: tục cưới xin, lễ Tạ ơn rừng.
Di sản phi vật thể: nói lý, hát lý.
Tra thêm: tượng giữ làng, ẩm thực người Cơ Tu.
Điều còn chưa rõ
- Sau sáp nhập, thành phố Đà Nẵng mới có bao nhiêu người Cơ Tu: chưa thấy số liệu công bố. Con số 1.325 chỉ là Hòa Vang năm 2019 [2].
- Nghề dệt thổ cẩm được công nhận di sản quốc gia năm nào, cho làng nào: bài báo [5] không ghi. Bài chưa kiểm được quyết định gốc.
- Tài liệu của Bộ Dân tộc [1] viết năm 2015 nên còn dùng tên huyện cũ và mô tả nhiều tập tục ở thì “trước kia”. Tập tục nào còn giữ, ở làng nào, cần khảo sát riêng.
Nguồn tham khảo
- Bộ Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), “Người Cơ Tu”, 4/11/2015, đăng lại trên Vietnam.vn, https://www.vietnam.vn/nguoi-co-tu, truy cập 18/10/2026.
- Phạm Trung Hiếu, Lưu Thị Diệu Hiền, “Tiếp cận giáo dục phổ thông của học sinh người Cơ Tu trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”, Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, số 5 (79), 2022, https://vjol.info.vn/isscr/article/view/75595, truy cập 18/10/2026.
- Ngọc Phúc, “Con trâu trong đời sống văn hóa người Cơ Tu”, Sài Gòn Giải Phóng, 21/2/2021, https://www.sggp.org.vn/con-trau-trong-doi-song-van-hoa-nguoi-co-tu-714853.html, truy cập 18/10/2026.
- Báo Lào Cai, “Nơi lưu giữ hồn văn hóa Cơ Tu”, 20/8/2023, https://baolaocai.vn/noi-luu-giu-hon-van-hoa-co-tu-post372360.html, truy cập 18/10/2026.
- Thu Hoài, “Nhiều hoạt động đặc sắc tại Ngày hội văn hóa truyền thống Cơ Tu”, Báo Văn hóa, 14/9/2025, https://baovanhoa.vn/dan-toc-ton-giao/nhieu-hoat-dong-dac-sac-tai-ngay-hoi-van-hoa-truyen-thong-co-tu-168207.html, truy cập 18/10/2026.