Nguyễn Bá Tuệ (1812 – 1851) là nhà khoa bảng thời Nguyễn quê làng Tuân Dưỡng (trước 7/2025: xã Bình An, huyện Thăng Bình), nay thuộc xã Thăng Điền [1][2]. Ông đỗ tiến sĩ năm 1841; nguồn 2 gọi ông là tiến sĩ duy nhất của khoa bảng Thăng Bình và tiến sĩ đầu tiên của vùng Nam Quảng Nam [2]. Sau khi đỗ đại khoa, ông được bổ làm Tri phủ Tân Bình ở Gia Định trước khi vướng vào vụ án năm 1848 [1][2].
Gia đình khoa bảng ở Tuân Dưỡng
Làng Tuân Dưỡng (người dân địa phương còn đọc là Tuần Dưỡng) có lịch sử ghi chép từ sớm [1]. Vào thời các chúa Nguyễn, sách Phủ biên tạp lục ghi xã Tuân Dưỡng thuộc tổng Mông Lĩnh, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn [1]. Đến đầu thời Gia Long, xã thuộc tổng An Thái Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa; sang thời Đồng Khánh thuộc phủ Thăng Bình [1]. Vùng đất này nằm ven đường thiên lý xưa, trước tháng 7/2025 thuộc xã Bình An, huyện Thăng Bình và nay thuộc xã Thăng Điền [1][2].
Nguyễn Bá Tuệ thuộc đời thứ 8 phái 4 dòng họ Nguyễn tại làng Tuân Dưỡng [1]. Cha ông là cụ Nguyễn Văn Thư (tự Tử Chí), đỗ Sinh đồ (sau đổi thành Tú tài) khoa Kỷ Mão 1819 dưới triều vua Gia Long [1][2]. Theo văn bia Văn thánh, cụ Thư là người đầu tiên trong tổng An Thái Trung đỗ học vị sinh đồ [1][2].
Gia đình ông có nhiều người cùng đỗ đạt qua các kỳ thi triều Nguyễn [1][2]. Người em kế của ông là Nguyễn Vĩnh Trinh đỗ tú tài các khoa 1837, 1840 rồi đỗ cử nhân khoa Quý Mão 1843 [1][2]. Theo bài báo, Nguyễn Vĩnh Trinh là người đầu tiên trong tổng đỗ cử nhân, từng dự hậu bổ ở Ninh Bình và làm tri huyện [1][2]. Người em út là Nguyễn Thế Bình đỗ tú tài qua ba khoa thi liên tiếp vào các năm 1841, 1842 và 1846 [1][2].
Tên tuổi của gia đình ông được khắc trên các tấm bia đá Văn thánh huyện Lễ Dương đặt tại Hà Lam, do Phó bảng Nguyễn Thuật cùng các nhân sĩ địa phương sưu tầm và tổ chức khắc dựng [1][2].
Hành trình khoa cử và làm quan
Nguyễn Bá Tuệ đỗ tú tài khoa thi Hương năm Tân Mão – 1831 [1][2]. Về các khoa thi tiếp theo, nguồn năm 2021 ghi ông dự thi và đỗ tú tài liên tiếp ba khoa 1831, 1834 và 1837 [2]; trong khi nguồn năm 2020 chỉ ghi hai khoa đỗ tú tài là 1831 và 1837 [1]. Năm 1838, ông được sung vào diện Cống sinh và theo bài báo năm 2021 là được cử vào học tại Quốc tử giám ở Huế [1][2].
Tại kỳ thi Hội và thi Đình vào năm Tân Sửu 1841 (niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất), ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, xếp thứ sáu trong bảng danh sách tiến sĩ [1][2]. Khi về làng vinh quy bái tổ, ông được vua Thiệu Trị ban tấm biển “Ân tứ vinh quy”, hiện vẫn được lưu giữ tại nhà thờ tộc [1]. Theo nguồn 2, ông là tiến sĩ duy nhất của khoa bảng Thăng Bình và là tiến sĩ đầu tiên của vùng Nam Quảng Nam; nguồn 1 gọi ông là vị đỗ tiến sĩ sớm nhất ở vùng nam Quảng Nam [1][2].
Sau khi đỗ đại khoa, ông được triều đình đặc cách bổ làm Tri phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định (bài báo chú thích khu vực này nay thuộc địa bàn hai quận Tân Bình và Tân Phú thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) [1][2].
Vụ án năm 1848 và những năm cuối đời
Cả hai bài báo đều dẫn sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn để thuật lại biến cố năm 1848 [1][2]. Vào mùa xuân tháng Giêng năm Tự Đức thứ nhất (1848), Tổng đốc Định – Biên là Ngô Văn Giải dâng sớ tâu hặc Án sát sứ Nguyễn Ba ăn nói khinh nhờn và thông đồng với Tri phủ Tân Bình Nguyễn Bá Tuệ giấu cướp, tha kẻ phạm [1][2]. Ngược lại, Nguyễn Ba tố cáo Ngô Văn Giải có hành vi tham nhũng [1][2].
Vua Tự Đức bãi chức hai quan lại đứng đầu, cử Lại bộ Tả tham tri Phạm Thế Trung làm Khâm sai cùng Lại bộ Thượng thư Nguyễn Đức Hoạt đến mở hội đồng tra xét [2]. Khi bản án dâng lên, triều đình kết luận Ngô Văn Giải và Nguyễn Ba vì việc riêng càn bậy nên bị cách chức về sổ dân chịu sai dịch [1][2].
Đối với Tri phủ Nguyễn Bá Tuệ, bản án tuyên phạt trượng và đem đi đồ [1][2]. Về mức án đem đi đồ, bài báo năm 2020 chú thích là bị cách chức và buộc làm phu dịch từ một đến ba năm [1]; trong khi bài báo năm 2021 chú thích là hình phạt bắt phải đi đày hoặc giam kín một nơi [2]. Theo bài báo năm 2021, ông bị vạ lây từ cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai vị quan cấp trên [2].
Do đau buồn trước hoạn nạn, ông lâm bệnh rồi mất năm 1851, bài báo ghi khi mới 39 tuổi [2]. Mộ của ông hiện nằm tại thôn Tuân Dưỡng, nay thuộc xã Thăng Điền [1][2]. Bia mộ ghi lập vào tháng trọng Đông năm Canh Tuất, Tự Đức tam niên; nguồn 1 chú thích là tháng 12/1851 dương lịch [1]. Trước phần mộ có đôi câu đối hoài niệm về người đỗ đạt khoa bảng phải chịu nỗi oan khuất vì việc đời [1][2]. Nguồn năm 2020 lưu ý văn bia không ghi quan hàm truy tặng, đặt nghi vấn ông qua đời khi chưa được triều đình phục chức [1].
Tra cứu liên quan
- Nhân vật đồng hương: Nguyễn Thuật, danh nhân xứ Quảng.
- Địa phương: xã Thăng Điền, bảng tra phường xã, quận huyện cũ thuộc phường xã nào.
Điều còn chưa rõ
- Năm sinh: Bài báo năm 2021 ghi ông sinh năm 1812 [2], nhưng bài báo năm 2020 không nhắc đến năm sinh [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các khoa đỗ tú tài: Nguồn năm 2021 ghi ông đỗ tú tài ba khoa liên tiếp (1831, 1834, 1837) [2], trong khi nguồn năm 2020 và bia Văn thánh chỉ ghi nhận hai khoa 1831 và 1837 [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Giải thích hình phạt đem đi đồ: Nguồn năm 2020 chú thích là buộc làm phu dịch từ 1 đến 3 năm [1], còn nguồn năm 2021 chú thích là đi đày hoặc giam kín một nơi [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm lập bia mộ: bia ghi năm Canh Tuất, Tự Đức tam niên, tương ứng năm 1850, trong khi nguồn 1 chú thích tháng 12/1851 và nguồn 2 ghi ông mất năm 1851 [1][2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vấn đề minh oan và phục chức: Cả hai bài báo đều chưa ghi nhận tư liệu nào cho thấy triều đình đã phục chức hoặc minh oan cho ông trước khi qua đời [1][2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Gia đình đại khoa ở Tuân Dưỡng”, 16/08/2020, https://baodanang.vn/gia-dinh-dai-khoa-o-tuan-duong-3075634.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Quảng Nam, “Khoa bảng Thăng Bình”, 28/02/2021, https://baodanang.vn/khoa-bang-thang-binh-3233251.html, truy cập 23/10/2026.