Chợ Cây Trâm (về sau còn gọi là chợ Kỳ Chánh) là một điểm dừng chân và giao thương buôn bán cổ xưa trên tuyến đường thiên lý qua xứ Quảng [1]. Chợ ở thôn Diêm Phổ (trước 7/2025: xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành), nay thuộc xã Tam Anh, nằm giáp ranh với làng Đức Bố xưa [1]. Địa danh này từng được ghi chép trong các thư tịch cổ như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, sách Đại Nam nhất thống chí và hệ thống địa bạ thời triều Nguyễn [1].
Địa danh Cây Trâm qua thư tịch cổ
Sách “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn biên soạn vào năm 1776 khi theo quân chúa Trịnh vào Thuận Hóa, dựa trên sổ sách hành chính và thuế khóa của chính quyền Đàng Trong [1]. Trong tác phẩm này, tác giả chép tên một “quán” (nơi nghỉ chân có hoạt động buôn bán) trên đường thiên lý nằm giữa sông Bầu Bầu và sông Tiên Quả (khu vực giáp ranh hai xã Tam Anh Bắc và Tam Anh Nam cũ của huyện Núi Thành) với tên gọi “Cây Kinh” [1].
Tuy nhiên, trong truyền khẩu dân gian và thư tịch tại địa phương không xuất hiện tên Cây Kinh, mà phổ biến câu ca dao: “Kể từ Ông Bộ kể ra / Cây Trâm, Trà Lý bước qua Bầu Bầu” cùng tên gọi chợ Cây Trâm [1]. Các nhà nghiên cứu và bô lão địa phương lý giải chữ Nôm thời xưa chép qua nhiều bản khác nhau rất dễ sai lệch tự dạng [1]. Hai bản “Phủ biên tạp lục” chữ Hán lưu hành trước năm 1975 ghi nhận sự khác biệt này [1]: – Bản ở miền Bắc (do Viện Sử học dịch, xuất bản năm 1964) ghi: “Từ sông Bàu – bàu qua quán Trà – lý, quán Cây – kinh, chợ Cầu Ông – bộ (bên đường gần núi), quán Lẻ, quán Cát (hai xứ đều cát và bụi rậm), tục gọi là truông Cát đến sông Bến-ván hết một ngày” [1]. – Bản lưu ở miền Nam (do Lê Xuân Giáo dịch, in năm 1973) dịch từ nguyên văn chữ Hán ghi “quán Khai” thay vì “quán Cây – kinh” [1].
Sự tồn tại của ngôi chợ mang tên Cây Trâm được khẳng định rõ trong sách “Đại Nam nhất thống chí” (bản chữ Hán ký hiệu HNV-209 tại Thư viện Khoa học Thành phố Hồ Chí Minh), mục liệt kê các “chợ và quán” của tỉnh Quảng Nam [1]. Chợ nằm giữa hai dòng sông Bầu Bầu và Tiên Quả, kề bên có cầu Ông Bộ bắc qua [1].
Thôn Diêm Phổ và tư liệu địa bạ
Địa bàn chợ Cây Trâm xưa thuộc thôn Diêm Phổ (trước tháng 7/2025 thuộc xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành; nay thuộc xã Tam Anh) [1]. Tập địa bạ lập năm Gia Long thứ 13 (1814) lưu giữ tại gia đình ông Huỳnh Đức Huệ (bờ nam sông Tiên Quả, cạnh cầu Ông Bộ) ghi nhận vào đầu triều Nguyễn, nơi đây là xã Diêm Phố, trực thuộc đơn vị Liêm Hộ của huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng Nam [1].
Các văn bản ruộng đất lưu tại gia đình thầy giáo Phạm Viết Tiếp Thu trong thôn thể hiện địa danh Diêm Phố viết bằng hai chữ Nho là “Diêm” (muối) và “Phố” (bến sông, cửa sông) [1]. Ông Phạm Tấn Tuấn (tổ 6 thôn Diêm Phổ, hậu duệ đời thứ 14 của tộc Phạm – tiền hiền làng) cho biết thủy tổ dòng họ có quê gốc tại làng Diêm Phố, tổng Xuân Trường, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa [1]. Tên gọi thôn Diêm Phố (về sau đọc trại thành Diêm Phổ) được đặt phỏng theo tên quê gốc nơi xứ Thanh [1].
Các di tích và di vật dòng họ tại Diêm Phổ
Khu vực thôn Diêm Phổ hiện còn lưu lại dấu tích nền chợ Cây Trâm xưa cùng nhiều công trình và di vật lịch sử [1].
Nhà thờ tộc Võ Viết (dòng họ có gốc gác từ phía bắc Quảng Nam) hiện lưu giữ bộ tư liệu gồm 7 sắc phong và bằng cấp thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị ban tặng cho ông Võ Viết Kiểm [1]. Ông là một võ quan thủy quân quê ở xã Thanh Hà, tổng Phú Triêm Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn [1]. Vào tháng 5 năm Thiệu Trị thứ 3 (bài báo ghi 1842), ông giữ chức vụ Chánh đội trưởng Suất đội cai quản Thập số 10, Vệ số 5 thuộc Doanh Trung của bộ phận thủy quân Kinh kỳ Thủy sư làm nhiệm vụ phòng vệ Kinh thành Huế [1].
Nhà thờ tộc Phạm Viết tại tổ 6 thôn Diêm Phổ còn giữ đôi câu đối khẳng định nghề bốc thuốc gia truyền của gia tộc [1]. Tại tư gia lương y Phạm Tấn Tuấn còn lưu giữ các bài thơ chữ Hán chạm nổi trên vách gỗ của đại thần Hà Đình Nguyễn Thuật (1842 – 1911), cùng bức hoành phi “Thế bửu đường” và câu đối cổ [1]. Toàn bộ số cấu kiện gỗ và văn tự này được gia đình mua lại từ một người buôn đồ cổ vào năm 1947 [1].
Trên cồn cát phía đông, cách nhà thờ tộc Phạm Viết chừng 200 mét có khu song mộ bằng đá thô [1]. Một tấm bia đã bị trát xi măng che lấp chữ; tấm bia còn lại khắc dòng chữ “Hoàng Việt – Hiển khảo Bùi phủ quân chi mộ”, do người con trai tên Quảng lập bia [1]. Dân gian truyền tụng đây là phần mộ của “quan Nhậm”, vị quan triều Hậu Lê có công xây dựng “đập Quan” trên dòng sông Tiên Quả dẫn nước tưới cho các cánh đồng Sung Mỹ, Tiên Quả và Diêm Phổ [1].
Ngoài ra, nhà thờ tộc Phạm (chi phái Diêm Phổ) là nơi thờ tự Tiến sĩ Phạm Tuấn (1852 – 1917), một trong năm nhân tài xứ Quảng cùng đỗ đại khoa một khoa thi, nhóm thường được dân gian gọi là Ngũ phụng tề phi [1]. Bên trong nhà thờ hiện bảo lưu hai bài thơ thất ngôn bát cú khắc trên liễn gỗ nhưng khuyết danh người sáng tác và niên đại [1].
Tra cứu liên quan
- Địa danh lân cận: làng Đức Bố, xã Tam Anh
- Nhân vật và sự kiện liên quan: Ngũ phụng tề phi, Nguyễn Thuật, huyện Diên Phước
Điều còn chưa rõ
- Tự dạng và tên gọi “quán Cây Kinh” hay “quán Khai” trong các bản dịch Phủ biên tạp lục so với tên gọi thực tế “chợ Cây Trâm” chưa có sự thống nhất dứt khoát giữa các văn bản lưu truyền [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thân thế, chức vụ chính thức và niên đại hoạt động của “quan Nhậm” (người họ Bùi) gắn với công trình đập Quan thời Hậu Lê hiện chỉ ghi nhận qua lời kể dân gian, chưa có gia phả đối chiếu do một tấm bia đá bị hư hại văn tự [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tác giả thực sự của hai bài thơ chữ Hán khắc trên liễn gỗ tại nhà thờ thờ Tiến sĩ Phạm Tuấn chưa thể khẳng định do ông sáng tác hay do người khác ca ngợi ông [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Từ Cây Trâm đến Diêm Phổ”, 20/09/2020, https://baodanang.vn/tu-cay-tram-den-diem-pho-3074806.html, truy cập 23/10/2026.