Làng Hà Lam từng là một trung tâm hành chính và văn hóa quan trọng của phủ Thăng Bình xưa, (trước 7/2025: thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình), nay thuộc xã Thăng Bình [1]. Diện mạo lịch sử, cơ cấu ruộng đất cùng quá trình tụ cư lập nghiệp của các dòng họ tại ngôi làng này được ghi chép cụ thể trong tập “Hà Lam xã chí” do Hội đồng Bảo tộc Tiền hiền Hà Lam xuất bản năm 2003 [1]. Tư liệu từ tập xã chí giúp làm rõ nguồn gốc tên làng, thiết chế mười hai tộc biện tiền hiền và hệ thống văn bia cổ còn lưu giữ đến nay [1].
Tập xã chí và bối cảnh lỵ sở Thăng Bình
Làng Hà Lam thuộc tổng Phú Mỹ Trung, huyện Lễ Dương từng là nơi đặt lỵ sở của phủ Thăng Hoa, về sau đổi tên thành phủ Thăng Bình thuộc tỉnh Quảng Nam cũ [1]. Hiện nay, vùng đất này là khu vực trung tâm của xã Thăng Bình [1].
Về cơ cấu ruộng đất công, theo số liệu trong “Địa bạ triều Nguyễn”, diện tích công điền và quan điền của làng Hà Lam được ghi nhận là hơn 485 mẫu [1]. Đến giai đoạn sau, theo ghi chép trong “Hà Lam xã chí”, diện tích công điền của làng được mở mang lên mức 876 mẫu [1]. Bài báo nhận định phần lớn diện tích ruộng đất công này có thể do các thế hệ di dân tiếp quản lại từ các thửa ruộng mà người Chăm từng canh tác trước đó, rồi các tộc họ chung sức khai khẩn mở rộng thêm [1].
Về văn bản hành chính, tên gọi xã Hà Lam chỉ xuất hiện phổ biến trong giấy tờ từ đầu thời nhà Nguyễn [1]. Trước giai đoạn này, sách “Phủ biên tạp lục” (1776) của Lê Quý Đôn từng ghi nhận tên “xã Hà Lam” một lần khi liệt kê danh sách làng xã nằm trên trục đường bộ đi qua phủ Thăng Hoa [1]. Diễn biến danh xưng của địa phương qua các thời kỳ lịch sử có thể xem thêm tại bài viết về Hà Lam ở Thăng Bình.
Giả thuyết về tên gọi và nguồn gốc cư dân
Về nguồn gốc danh xưng Hà Lam, tập “Hà Lam xã chí” dẫn lại hai cách giải thích từ gia phả của hai dòng tộc tiền hiền trong làng [1].
Gia phả tộc Nguyễn Đức chép rằng vị thủy tổ mang tước Lương Xuyên hầu là người lập ra xã hiệu Hà Lam [1]. Khi xem xét phong thổ, thấy phía trên có khe sen chảy xuống và phía dưới có ruộng mạ tươi tốt màu chàm, thủy tổ bèn ghép chữ “Hà” mang nghĩa hoa sen với chữ “Lam” mang nghĩa màu xanh chàm để đặt tên cho làng [1].
Trong khi đó, tư liệu của tộc Võ Văn lại ghi nhận thủy tổ Võ Văn Khâm mang tước Dinh Bửu hầu khi khảo sát tìm vùng đất định cư thấy khu vực này hoang vu chưa có xã hiệu nên đã tập hợp cư dân lập ấp [1]. Trước cảnh quan có dòng nước chảy cùng hoa sen nở rộ, ông đã mượn ý từ các điển tích cổ về ruộng ngọc và hương sen xa ngát để đặt ra tên gọi Hà Lam [1].
Về cội nguồn các dòng họ, gia phả hai tộc Võ Văn và Nguyễn Đức đều ghi nhận tổ tiên là lưu dân xuất thân từ vùng Nghệ An và Hà Tĩnh (châu Hoan) chuyển đến lập nghiệp không lâu sau cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông [1].
Mười hai tộc biện tiền hiền và nhà thờ tiền hiền
Theo tập “Hà Lam xã chí”, các nguồn sử liệu của làng không ghi rõ những tộc nào từng nhận sắc phong tiền hiền chính thức từ triều đình [1]. Dù vậy, từ thời xa xưa, làng Hà Lam đã duy trì thiết chế gồm 12 dòng họ luân phiên nhau cáng đáng lễ kỵ tiền hiền vào ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, gọi là “Mười hai tộc biện tiền hiền” [1]. Nhóm này gồm 5 tộc Nguyễn (Nguyễn Đức, Nguyễn Hữu và ba phái thuộc họ Nguyễn Công) cùng 7 tộc Võ (Võ Văn, Võ Tấn, Võ Đình, Võ Viết, Võ Duy, Võ Như, Võ Hưng) [1].
Số liệu tổng kết trong tập xã chí cho thấy tính đến tháng 8/1945, bên cạnh 12 họ tiền hiền kể trên, đất Hà Lam còn có 42 dòng tộc khác cùng quần cư sinh sống, trong đó có 39 tộc bảo tồn được tư liệu thành văn về nguồn gốc của mình [1].
Công trình kiến trúc có quy mô lớn nhất còn lại tại đây là nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam [1]. Ngôi nhà thờ này không rõ niên đại xây dựng ban đầu, từng trải qua nhiều lần trùng tu trên nền móng cũ, trong đó đợt trùng tu gần nhất được thực hiện vào năm 1998 [1]. Khuôn viên nhà thờ có các cây xoài cổ thụ sum sê [1]. Mặt tiền công trình có gắn các bức hoành khắc chữ “Hoan châu phát tích”, “Hà thủy khai cơ” cùng câu đối nhắc nhớ nguồn cội Hoan châu và biểu tượng “Thiện tục khả phong” do vua Tự Đức ban tặng cho làng [1].
Cảnh quan Cửu khúc hà trì và 13 văn bia cổ
Dòng chảy đi qua địa phận làng Hà Lam mang tên “Cửu khúc hà trì”, nghĩa là khe ao sen chín đoạn uốn khúc, có cây cầu đá cổ kính tên gọi Hà Kiều bắc ngang [1].
Không gian hai bên dòng nước này trước đây tập trung các công trình công cộng của vùng lỵ sở [1]. Bên tả ngạn từng là nơi đặt đình làng Hà Lam, Văn thánh huyện Lễ Dương – Thăng Bình và lỵ sở phủ Thăng Bình [1]. Bên hữu ngạn có khu nhà ở của danh thần Nguyễn Thuật cùng nhà thờ tiền hiền, đàn Tiên Nông, khu nghĩa trủng và một số thắng cảnh tự nhiên như Hòn đá ngựa, Núi dê, Hòn đá cõng, Rừng bà Nú, Lùm bà Dàng [1]. Qua thời gian và chiến tranh, các địa điểm này nay chỉ còn lại một số dấu vết [1].
Tại nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam hiện bảo quản 13 tấm bia đá cổ [1]. Trong đó có hai bia ghi chép việc tu bổ đình làng Hà Lam, một bia hai mặt ghi chép về cầu Hà Kiều, một bia ghi việc lập nghĩa trủng, cùng các văn bia ghi danh các bậc công thần, khoa bảng và tiết phụ của huyện Lễ Dương xưa [1].
Về truyền thống học hành, tập xã chí ghi nhận chi tiết trường hợp gia đình khoa bảng thuộc tộc Nguyễn Công [1]. Cụ Nguyễn Đạo (1803 – 1872) thuộc đời thứ 9 đỗ Tú tài, sinh ra các con trai đỗ đạt gồm Nguyễn Tạo đỗ Cử nhân giữ chức Sơn phòng sứ Quảng Nam, Nguyễn Thuật đỗ Phó bảng làm quan đến chức Thượng thư triều Nguyễn, Nguyễn Uýnh đỗ Cử nhân tham gia phong trào Cần vương và hy sinh trong kháng chiến, cùng người con út Nguyễn Suyền đỗ Tú tài [1]. Đến đời cháu, hai con trai của cụ Nguyễn Thuật là Nguyễn Chức đỗ Cử nhân và Nguyễn Kinh đỗ Tú tài [1].
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: bộ hồ sơ Quảng Nam xã chí.
- Tra thêm: Trương Công Diêu.
- Địa bàn và cơ sở thờ tự: xã Thăng Bình, Hà Lam ở Thăng Bình, nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam
- Nhân vật lịch sử: Nguyễn Thuật
- Tra cứu địa giới: bảng tra phường xã mới, quận huyện cũ thuộc phường xã nào
Điều còn chưa rõ
- Năm xây dựng ban đầu của nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam chưa được xác định cụ thể trong các tài liệu [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại cụ thể từng tấm bia trong số 13 tấm bia đá cổ đang lưu giữ tại nhà thờ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí cụ thể và hiện trạng còn lại của các thắng tích tự nhiên như Hòn đá ngựa, Núi dê hay Rừng bà Nú [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Hà Lam xưa qua Hà Lam xã chí”, 22/05/2022, https://baodanang.vn/ha-lam-xua-qua-ha-lam-xa-chi-3059977.html, truy cập 23/10/2026.