Quảng Nam xã chí là bộ hồ sơ điều tra làng xã được Viện Viễn Đông Bác Cổ thực hiện trong hai năm 1943 – 1944, hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm [1]. Bộ tài liệu ghi lại chi tiết các thiết chế hành chính, tín ngưỡng, dòng họ và sinh hoạt đời sống của nhiều làng quê xứ Quảng giữa thế kỷ 20 [1]. Bài này thuộc nhóm tư liệu cùng loại với thư tịch Hán Nôm xứ Quảng.
Cấu trúc 11 đề mục điều tra
Theo bài báo của tác giả Trần Đình Hằng, cuộc điều tra của Viện Viễn Đông Bác Cổ được triển khai đồng loạt theo 11 đề mục chặt chẽ, tập trung vào bốn nhóm nội dung chính [1]:
Nhóm thứ nhất là văn bản và thư tịch cổ, ghi chép nội dung văn bia ký, thần sắc, thần tích, cổ chỉ, địa bạ, châu bộ và hương ước [1]. Nhóm thứ hai khảo sát thiết chế tín ngưỡng cùng kiến trúc, gồm tượng thờ, đồ tự khí, đình làng, chùa chiền, miếu, lăng thờ thần linh, nhà thờ tiền hiền và từ đường dòng họ [1]. Nhóm thứ ba tường thuật sinh hoạt lễ tục và thiết chế xã hội như hội làng, tục cưới hỏi, tang ma, tế lễ, trật tự ngôi thứ và cách phân xử tranh chấp nội bộ [1]. Nhóm thứ tư ghi nhận không gian sinh thái nhân văn với cảnh quan cổ tích, sơ đồ địa hạt, đường giao thông thủy bộ, nghề cổ truyền và nông sản của từng địa phương [1].
Tín ngưỡng và văn hóa dòng họ
Tài liệu phản ánh các lớp tín ngưỡng có sự đan xen giữa văn hóa người Việt, người Chăm và người Minh Hương [1]. Danh mục thần linh được phụng thờ ở các làng trải rộng từ Thành hoàng, Bạch Mã, Tứ vị Thánh nương, Ngũ Hành phu nhân đến Thiên Y A Na Chúa Ngọc, Bảo Sanh đại đế và Huyền Thiên đại đế [1]. Về mặt quản trị làng xã, các bản quy ước cho thấy tính tự quản cộng đồng cùng các quy định chấn chỉnh tệ nạn cờ bạc, say sưa [1]. Người đọc có thể đối chiếu thêm qua khảo cứu về hương ước xứ Quảng.
Đối với văn hóa gia tộc, hồ sơ lưu giữ lời khai về các bậc tiền nhân mở đất, bao gồm danh tính thủy tổ, mốc thời gian di cư và công trạng của các quan viên, tướng lĩnh [1]. Có thể đối chiếu với bài tiền hiền trong văn bia Quảng Nam.
Một số làng xã trong hồ sơ
Hồ sơ ghi nhận thực tế tại nhiều làng xã khác nhau, chẳng hạn như làng Bàng Thạch thuộc tổng An Lạc, phủ Duy Xuyên [1]. Tại vùng ven đô thị cổ Hội An, tài liệu ghi chép rất cụ thể về đại xã Cẩm Phô thuộc phủ Điện Bàn [1]. Nơi đây lưu giữ hệ thống sắc phong tại đình và miếu Hội đồng, nêu tên các tộc tiền hiền như tộc Huỳnh Viết, Nguyễn Viết và tộc Trần Trung (với thủy tổ Thiêm Lộc hầu thời Lê – Tây Sơn), cùng hành trạng của Thượng thư Nguyễn Tường Vân và Bố chánh Trần Ngọc Diêu [1]. Làng Cẩm Phô khi ấy có quy mô hơn 500 mẫu đất với hàng vạn dân, phát triển nhiều nghề như trồng lúa, dâu tằm, cào hến nung vôi, thợ mộc, thợ nề; hồ sơ còn lưu giữ các tập tục như lễ Tống ôn rằm tháng Giêng với lệ thả thuyền rước trừ tà trên sông và lệ đóng mở mõ đầu năm [1].
Ở phường đệ nhị Minh Hương, hồ sơ chép rõ gốc tích nhóm “Thập lão” lập làng từ năm Canh Ngọ (1630) đời Lê Dương Hòa, sự hình thành đình Cẩm Hà Cung, Chùa Cầu, Chùa Ông, quyền quản lý bến tàu buôn và nghề làm bánh bột [1]. Tại phường Sơn Phong, tài liệu ghi nhận sự định cư của 6 họ từ làng Mậu Tài ở Huế mang nghề kéo sợi thau làm lưỡi câu vào xứ Quảng [1].
Mở rộng ra vùng biển đảo, bản xã chí làng Tân Hiệp trên đảo Cù Lao Chàm bổ sung nhiều tư liệu còn thiếu trong địa bộ cũ bằng các tờ trình, lệnh phê từ các niên hiệu Chính Hòa, Vĩnh Thịnh, Cảnh Hưng [1]. Các văn bản này giao cho 5 dòng họ tiền hiền thay phiên nhau tuần phòng tàu buôn [1]. Tài liệu cũng ghi chép nhịp sống mưu sinh của cư dân đảo: 3 tháng làm ruộng, 3 tháng đánh cá, 6 tháng đi rừng đốn củi, khai thác mây tre và lấy tổ yến, cùng hải trình 8 giờ đi thuyền buồm từ Cửa Đại ra Hòn Lao [1].
Giá trị nghiên cứu và bảo tồn
Theo nhận định của tác giả bài báo, bộ tài liệu cung cấp cứ liệu cho công tác bảo tồn di sản, quy hoạch không gian văn hóa – du lịch cộng đồng, biên soạn địa chí và gia phả [1]. Tác giả cũng nêu đề xuất cần tiếp tục khai thác sâu và số hóa nguồn hồ sơ này nhằm gìn giữ các giá trị văn hóa trước nguy cơ mai một [1]. Một ví dụ khai thác hồ sơ cho từng làng là bài Hà Lam trong xã chí.
Tra cứu liên quan
- Nguồn tư liệu: thư tịch Hán Nôm xứ Quảng, hương ước xứ Quảng
- Nhân vật và làng xã: tiền hiền trong văn bia Quảng Nam, Hà Lam trong xã chí
- Địa bàn khảo sát: Cù Lao Chàm, thương cảng Faifo
Điều còn chưa rõ
- Tổng số lượng làng xã của Quảng Nam được điều tra đầy đủ trong đợt 1943 – 1944 chưa được bài báo thống kê trọn vẹn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Mức độ hoàn thành của dự án số hóa toàn bộ bộ hồ sơ Quảng Nam xã chí tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Quảng Nam Xã chí – Giá trị một nguồn tư liệu quý”, 02/10/2026, https://baodanang.vn/quang-nam-xa-chi-gia-tri-mot-nguon-tu-lieu-quy-3353848.html, truy cập 23/10/2026.