Nghề “ăn” mứt là cách gọi dân gian của ngư dân làng Nam Ô khi đi cạo một loài rêu biển đen mọc bám trên các gành đá ven bờ [1]. Đây là sản vật tự nhiên của vùng biển gành dưới chân đèo Hải Vân (nay thuộc phường Hải Vân) và bờ bắc bán đảo Sơn Trà (nay thuộc phường Sơn Trà), gắn liền với đời sống kinh tế lúc nông nhàn mùa biển động của cư dân bản địa [1].
Tên gọi và đặc tính sinh trưởng
Trong ngôn ngữ địa phương xứ Quảng, người Nam Ô dùng chữ “ăn” mứt giống như cách nói “ăn” trầm hay “ăn” lá làm nón để chỉ công việc khai thác một sản vật từ thiên nhiên [1]. Xưa kia các bậc nho học gọi loài rêu này là huyền tảo, còn trong dân gian người ta hay gọi nôm na là mứt đá hoặc tóc tiên [1]. Khác với các loại mứt làm từ củ quả hay bánh kẹo ngọt, mứt đá ở Nam Ô thực chất là một loài thực vật phù du thuộc dạng rêu tảo biển [1].
Mùa mứt bắt đầu từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 âm lịch hằng năm [1]. Khi tiết trời trở lạnh, những cơn sóng lớn đánh nước biển hòa lẫn với lượng nước ngọt từ các cửa sông đổ vào những tảng đá gành quanh vịnh Sơn Trà – Hải Vân [1]. Kết hợp cùng mưa lâm thâm và gió lạnh, các tảng đá sát mép nước bắt đầu lún phún mọc lên những mảng rêu màu đen sẫm [1]. Sau khoảng mười ngày đến nửa tháng, lớp rêu có thể dài thêm cả tấc, và nếu để lâu hơn sẽ vươn dài chừng 3 – 4 tấc, đen nhánh như sợi tóc [1]. Khoảng giữa tháng Chạp khi thời tiết ấm dần lên để chuyển sang mùa xuân, mứt đá sẽ tự lụi tàn và biến mất [1].
Truyền thuyết ông Câu và nguồn gốc nghề
Dân gian vùng biển Nam Ô lưu truyền một truyền thuyết kể về nguồn gốc nghề thu hái mứt [1]. Ngày xưa, làng chài chỉ có nghề đánh bắt tôm cá, khi bước sang tháng 10 âm lịch biển động dữ dội thì thuyền bè không thể ra khơi [1]. Một người dân được gọi là ông Câu vì bụng đói đã vác cần ra mép gành kiếm cá nhưng bị kiệt sức rồi thiếp đi trên đá [1]. Trong giấc mơ, ông thấy một tiên nữ có mái tóc đen nhánh bay trong gió; do đói lả nên ông đưa tay bứt lấy mớ tóc bỏ vào miệng [1]. Tóc ấy có vị mặn mòi, thanh mát của biển khơi và giúp ông hồi phục sức lực [1].
Khi một đợt sóng biển lớn tạt vào làm ông giật mình tỉnh dậy, ông nhận ra tay mình đang nắm một vốc rêu biển mềm màu đen nhánh [1]. Tin rằng được thần tiên mách bảo cứu đói, ông bèn hái mớ rêu đem về làng chia cho mọi người, từ đó gọi là tóc tiên và hình thành nên nghề thu hái mứt đá [1].
Phân loại và dụng cụ thu hái
Theo quan sát của ngư dân, mứt đá tại đây gồm có hai loại chính là mứt lá và mứt tóc [1]. Loại mứt lá phát triển to bản và bè ngang trên mặt đá, trong khi loại mứt tóc phát triển thành những sợi mảnh dài mềm mại [1]. Công việc thu hoạch mứt được gọi là “cạo”, đòi hỏi người đi hái phải có thể lực tốt, quen chịu sóng gió và thao tác nhanh nhẹn trên các mỏm đá trơn trượt [1].
Trước đây, một người đi cạo mứt chuyên nghiệp chuẩn bị gùi mây đeo sau lưng, một cái cảu (loại rổ tre đan sâu lòng, miệng hẹp) và khoảng 5 – 6 cái dũm [1]. Dũm là một tấm sắt tây tròn cắt từ vỏ thùng phuy đựng dầu, được gò cong như muôi múc canh với đường kính khoảng 10 cm, dùng để miết cạo mứt bám chặt vào bề mặt đá [1]. Khi chiếc dũm bị mòn cạnh, người hái sẽ thay chiếc khác [1]. Về sau này, ngư dân dùng bao tời có miệng lồng vành sắt để hứng mứt trực tiếp trong lúc cạo, giúp sóng biển không đánh trôi mất sản vật vừa thu được [1].
Phương thức đi gành và đời sống ngư dân
Khu vực mứt sinh trưởng tập trung ở những nơi nước ngọt đổ ra biển pha lẫn nước mặn [1]. Ngư dân phân chia thành hai khu vực: vùng gành đá Nam Ô gần bờ (gành lộng) và các gành xa hơn như gành Hải Vân hay mạn bắc bán đảo Sơn Trà (gành khơi) [1]. Để tới các điểm khai thác, người dân sử dụng hai hình thức đi bộ hoặc đi ghe [1]:
- Đi bộ: Thường áp dụng vào những ngày sóng to gió lớn khiến thuyền bè không thể rời bến [1]. Từng nhóm khoảng 5 – 7 người phải thức dậy từ 2 giờ sáng, đi bộ men theo bờ biển để tiếp cận những gành đá ở cự ly gần [1].
- Đi ghe: Mỗi chuyến ghe chở hơn mười người, rời bến vào khoảng 3 giờ sáng khi mặt biển còn êm để di chuyển đến các gành xa [1]. Khi đến nơi nếu gặp sóng to, đòi hỏi kinh nghiệm định vị và neo đậu vững vàng [1].
Món mứt đá Nam Ô từ xưa đã được người dân sử dụng trong bữa ăn gia đình và từng được thương nhân người Hoa tìm đến mua đưa về các nhà hàng ở Chợ Lớn phục vụ thực khách [1]. Mùa mứt diễn ra vào những tháng cuối năm âm lịch đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể, giúp người dân xóm Gành trang trải sinh hoạt và có được cái Tết no ấm trước khi đón xuân [1].
Tra cứu liên quan
- Địa danh lân cận: làng Nam Ô, phường Hải Vân, phường Sơn Trà
- Tự nhiên và cảnh quan: đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà
- Nghề truyền thống địa phương: nước mắm Nam Ô
Điều còn chưa rõ
- Tên danh pháp khoa học chính xác của loài rêu mứt biển này trong phân loại thực vật học chưa được ghi nhận trong nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các kinh nghiệm dân gian lưu truyền về việc mứt giúp hỗ trợ bệnh bướu cổ hay phụ khoa chưa có nghiên cứu y học kiểm chứng [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Ranh giới địa lý cụ thể của tên gọi xóm Gành theo đơn vị tổ dân phố hay khối phố hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Nghề \”ăn\” mứt Nam Ô”, 04/11/2014, https://danang.gov.vn/vi/web/dng/w/nghe-an-mut-nam-o-i, truy cập 23/10/2026.