Lịch sử

Sân bay Đà Nẵng II ở Nước Mặn: một quy hoạch dang dở

Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà
Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Sân bay Đà Nẵng II từng là một dự án quy hoạch trên bán đảo Tiên Sa, tức bán đảo Sơn Trà ngày nay. Tranh chấp đất quanh dự án khiến hàng nghìn cư dân sống trong tình trạng không biết khu vực nào sẽ bị trưng thu, còn chính quyền địa phương khó xây dựng trường học và bệnh xá [1].

Vì sao Pháp muốn lập sân bay thứ hai?

Bài viết của Võ Hà đặt dự án trong bối cảnh Pháp tái chiếm Đà Nẵng sau năm 1945 và nhu cầu quân sự trong chiến tranh. Theo đó, phía Pháp muốn mở rộng sân bay hiện hữu ở phía tây sông Hàn, đồng thời lập sân bay thứ hai ở bán đảo Tiên Sa [1].

Tờ trình số 2435-VP/PCM của Phủ Thủ hiến Trung Việt gửi Thủ tướng chính phủ Việt Nam tại Sài Gòn ngày 28/11/1953 là tư liệu trung tâm được bài báo dẫn. Tờ trình nói phần lớn bán đảo nằm trong phạm vi đất mà nhà chức trách quân sự Pháp có quyền sử dụng. Khoảng 11.000 người cư trú tại đó lo ngại bị buộc rời đi, trong khi chưa biết chính xác ranh giới thu hồi [1].

Đời sống bị treo bởi ranh giới chưa rõ

Tòa Thị chính Đà Nẵng và Phủ Thủ hiến Trung Việt nhiều lần hỏi giới chức Pháp về giới hạn diện tích cần cho sân bay. Theo nội dung tờ trình được bài báo trích, phía Pháp trả lời chưa thể xác định ranh giới vì còn chờ thương thuyết ở cấp chính phủ [1].

Hệ quả không chỉ là nguy cơ mất đất. Khi khu vực bị đặt trong diện có thể trưng thu, cư dân khó biết liệu có được xây thêm nhà hay không. Tòa Thị chính cũng không thể chủ động làm các công trình công cộng như trường học và bệnh xá tại đó [1]. Nguồn mô tả đây là một trạng thái bấp bênh kéo dài, nhưng không nêu danh sách cụ thể các làng hay hộ dân bị ảnh hưởng.

Hai khu đất và quy mô lớn hơn nhượng địa cũ

Theo bài báo, hồ sơ Pháp có thể sử dụng hai khu đất để lập căn cứ không quân: 139 ha ở tả ngạn sông Hàn và 666 ha tại bán đảo Sơn Trà, tổng cộng 805 ha. Con số này được đặt cạnh nhượng địa Đà Nẵng cũ rộng chưa đầy 204 ha [1].

Một công văn mật ngày 18/11/1954 của Thị trưởng Đà Nẵng, cũng được tác giả dẫn, mô tả thành phố khi ấy rộng 2.034 ha và phần hữu ngạn sông Hàn ở bán đảo Sơn Trà đã bị trưng thu gần hết [1]. Hai tài liệu được bài báo sử dụng cho thấy câu chuyện sân bay gắn với quyền kiểm soát đất đô thị và khả năng sinh sống của cư dân, chứ không chỉ là việc chọn địa điểm xây dựng.

Kế hoạch bị gác, tên Nước Mặn xuất hiện về sau

Phủ Thủ hiến Trung Việt đề nghị sửa Nghị định 43-Cab/Prés ngày 19/11/1951, thu hẹp phạm vi đất có thể trưng thu hoặc tạm hoãn thi hành. Bài báo cho rằng một mật ước giữa chính phủ Quốc gia Việt Nam và Pháp năm 1949 khiến việc thay đổi cam kết trưng dụng đất quân sự khó khăn [1].

Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, quy hoạch Đà Nẵng II bị gác lại. Tác giả kết nối địa điểm dự kiến ấy với sân bay Nước Mặn được quân đội Mỹ sử dụng trong giai đoạn sau [1]. Bài cũng mở đầu bằng thông tin các lực lượng giải phóng từng tấn công sân bay Nước Mặn và phá hủy máy bay Mỹ, nhưng không xác định ngày, số trận hay số máy bay trong thân bài [1]. Vì vậy, phần diễn biến quân sự cần nguồn riêng để trình bày chi tiết.

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn không nêu ranh giới chính xác của dự án Đà Nẵng II theo địa giới phường hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Mối liên hệ quy hoạch giữa sân bay Đà Nẵng II và sân bay Nước Mặn về sau cần đối chiếu bản đồ, hồ sơ quân sự và tài liệu quy hoạch [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Các trận đánh vào sân bay Nước Mặn, thời điểm và thiệt hại cụ thể không được triển khai trong thân bài nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, Võ Hà, “Câu chuyện sân bay Đà Nẵng II”, 05/03/2023, https://baodanang.vn/cau-chuyen-san-bay-da-nang-ii-3235509.html, truy cập 23/10/2026.