Trần Ngự, bí danh Trần Thanh Tâm, là cán bộ hoạt động cách mạng tại vùng Quế Sơn và Hiệp Đức trong hai thời kỳ chiến tranh [1][2][3]. Ông từng bị giam cầm tại nhiều nhà tù trước khi trở về tiếp tục hoạt động và hy sinh trên quê hương [1][2]. Năm 2014, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân [1][2].
Hoạt động trước năm 1954
Theo các tư liệu lịch sử địa phương, Trần Ngự sinh ngày 2/10/1923 trong một gia đình khá giả ở làng Hóa Quê, nay thuộc địa bàn xã Việt An [2][3]. Năm 1937, sau khi hoàn thành việc học ở trường làng, ông được người cùng làng là cán bộ tiền khởi nghĩa Huỳnh Hảo giác ngộ cách mạng [3]. Năm 18 tuổi, ông tham gia nhóm Thanh niên phản đế và giữ cương vị Bí thư Đoàn thanh niên xã [2]. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông cùng các đồng chí thâm nhập vào tổ chức thanh niên thân Nhật để vận động quần chúng đi theo Mặt trận Việt Minh và tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ [3].
Tháng 8/1945, ông cùng lực lượng địa phương tham gia giành chính quyền tại tổng An Mỹ [3], sau đó giữ chức Ủy viên Ủy ban Hành chính kháng chiến xã phụ trách văn xã [2]. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản [1][2][3]. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), ông đảm nhận vai trò Bí thư Đoàn thanh niên và Trưởng ban Tuyên huấn xã Quế Thọ [2].
Những năm tháng tù đày
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông được phân công ở lại địa phương hoạt động bí mật cùng ông Cao Đình Trung nhằm xây dựng các tổ chức cơ sở nòng cốt [1][2][3]. Sau đó, cơ sở bị lộ và ông bị bắt giam lần đầu (nguồn ghi tháng 10/1956, nguồn khác ghi năm 1957) tại nhà lao Quế Sơn (nay thuộc xã Quế Sơn) [1][2]. Do phía đối phương không thu thập được chứng cứ nên ông được trả tự do sau một thời gian giam giữ [1][2].
Đến cuối năm 1959, ông bị bắt lần thứ hai và bị đưa vào nhà lao Hiệp Đức (nay thuộc xã Hiệp Đức), rồi chuyển ra nhà lao Hội An [1][2]. Tại đây, ông chịu nhiều biện pháp tra tấn nặng nề nhưng không khai báo thông tin tổ chức bí mật [1][2]. Ngày 20/7/1961, Trưởng ty Công an tỉnh Quảng Nam của chế độ cũ đã ghi kết luận vào bản lý lịch can cứu rằng ông là “Đảng viên Cộng sản kỳ cựu (1949) trung kiên khó cải tạo”, đề nghị phân loại A – diện đối tượng nguy hiểm cho chế độ, đồng thời chuyển ông ra Trung tâm cải huấn Đà Nẵng với số tù 041 trong thời hạn hai năm [1][2][3]. Sau đó, ông bị chuyển đến Khám Chí Hòa và đưa ra Côn Đảo vào năm 1962 [1]. Sau biến cố chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông cùng nhiều người khác được ra tù [1][2].
Trở về chiến trường và hy sinh
Ra tù vào khoảng năm 1964, ông không trở về gia đình mà lập tức tìm cách chắp nối cơ sở bí mật để hoạt động tại vùng tây Quế Sơn [1][2]. Ông tham gia chỉ đạo các đợt tập kích cơ sở hành chính đối phương và các chiến dịch quân sự năm 1965 [1][2]. Năm 1967, ông giữ cương vị Huyện ủy viên, Phó Trưởng ban Tuyên huấn kiêm Phó Trưởng ban Đấu tranh chính trị, binh vận huyện Quế Sơn [2]. Ông trực tiếp biên soạn các tài liệu, thư từ kêu gọi binh lính thuộc lực lượng đối phương tại quận Hiệp Đức rời bỏ hàng ngũ mang vũ khí về với nhân dân [1][2].
Vào rạng sáng ngày 4/4/1969 (nguồn khác ghi 4/4/1968), trên đường đi công tác từ huyện Quế Sơn về vùng ven quận Hiệp Đức, ông lọt vào ổ phục kích tại khu vực ruộng Sứ, Đình Lá, thôn Cẩm Tú, xã Quế Thọ [1][2]. Dù bị thương nặng, ông vẫn nổ súng bắn trả làm thiệt mạng một lính Mỹ trước khi hy sinh [1][2]. Khi qua đời, ông để lại người vợ và bốn con nhỏ, trong đó người con út mới tròn 5 tháng tuổi [1][2].
Ngày 9/10/2014, Chủ tịch nước đã ký quyết định truy tặng liệt sĩ Trần Ngự danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân sau khi các hồ sơ giam giữ thời chiến tranh được tìm thấy trong tàng thư lưu trữ [1][2].
Tra cứu liên quan
- Nhân vật cùng thời: nhóm danh nhân xứ Quảng.
- Địa bàn hoạt động: xã Việt An, xã Hiệp Đức, xã Quế Sơn, phường Hội An.
Điều còn chưa rõ
- Năm hy sinh: Nguồn 1 ghi ông hy sinh ngày 4/4/1969 [1], trong khi bài viết ở nguồn 2 ghi ngày 4/4/1968 [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm bị bắt lần thứ nhất: Nguồn 1 ghi năm 1957 tại nhà lao Quế Sơn [1], còn nguồn 2 ghi tháng 10/1956 [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các nhà tù bị giam giữ: Nguồn 1 ghi ông bị đày qua Khám Chí Hòa và đưa ra Côn Đảo từ năm 1962 [1], trong khi nguồn 2 chủ yếu nhắc đến thời gian bị giam giữ ở Trung tâm cải huấn Đà Nẵng [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Người anh hùng của đất Quế Thọ”, 07/02/2020, https://baodanang.vn/nguoi-anh-hung-cua-dat-que-tho-3034871.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Người mang số tù 041”, 23/10/2018, https://baodanang.vn/nguoi-mang-so-tu-041-3034917.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Người anh hùng của đất Quế Thọ”, 06/02/2020, https://baodanang.vn/nguoi-anh-hung-cua-dat-que-tho-3034872.html, truy cập 23/10/2026.