Con người

Phan Bá Phiến

Phan Bá Phiến (còn có tên là Phan Thanh Phiến, tự Dương Nhân) là một trong những thủ lĩnh chủ chốt của phong trào Cần vương tại xứ Quảng cuối thế kỷ XIX [1]. Cùng với Trần Văn Dư và Nguyễn Duy Hiệu, ông lãnh đạo lực lượng nghĩa quân đánh chiếm tỉnh thành La Qua và xây dựng căn cứ kháng chiến Tân Tỉnh [1]. Khi căn cứ thất thủ vào năm 1887, ông đã uống thuốc độc tự vẫn để bảo vệ phong trào [1].

Thân thế và khoa cử

Phan Bá Phiến sinh năm 1839 tại làng Kỳ Lược, thuộc huyện Hà Đông trước đây (khu vực này trước tháng 7/2025 là xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; nay thuộc địa bàn xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng) [1]. Ông mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi còn nhỏ, được người cô ruột đón về nuôi nấng và chăm lo cho ăn học đến ngày thành tài [1].

Vào khoa thi hương năm Nhâm Ngọ (1882), ông thi đỗ cử nhân [1]. Sau khi đỗ đạt, triều đình bổ nhiệm ông làm Tri huyện Phù Cát thuộc tỉnh Bình Định [1]. Tuy nhiên, ông chỉ giữ chức vụ này trong một thời gian ngắn rồi quyết định cáo quan trở về quê nhà [1].

Tham gia lãnh đạo Nghĩa hội Quảng Nam

Tháng 5/1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn và ban chiếu Cần vương kêu gọi toàn dân khởi nghĩa giúp nước [1]. Hưởng ứng lời kêu gọi, phong trào Nghĩa hội Quảng Nam được thành lập, trong đó Phan Bá Phiến trở thành một trong ba nhân vật lãnh đạo chủ chốt cùng với Trần Văn Dư và Nguyễn Duy Hiệu [1].

Ngày 4/9/1885, cánh quân do Phan Bá Phiến trực tiếp chỉ huy đã phối hợp với các đơn vị nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư và võ tướng Hồ Học đồng loạt tấn công đánh chiếm tỉnh thành La Qua (tỉnh thành Quảng Nam khi đó) [1]. Thắng lợi này tạo nên thanh thế lớn cho phong trào kháng chiến tại địa phương [1].

Đến ngày 13/12/1885, Hội chủ Trần Văn Dư bị ám hại [1]. Sau biến cố này, phong trào tôn Nguyễn Duy Hiệu lên làm Hội chủ, còn Phan Bá Phiến đảm nhận vai trò Phó hội [1]. Trên cương vị phó thủ lĩnh, ông trực tiếp tham gia chỉ huy xây dựng căn cứ kháng chiến Tân Tỉnh tại vùng núi Trung Lộc, thuộc huyện Quế Sơn cũ [1]. Căn cứ Tân Tỉnh trở thành trung tâm đầu não chỉ đạo toàn bộ các hoạt động tác chiến của phong trào Cần vương trên đất Quảng trong giai đoạn này [1].

Căn cứ Tân Tỉnh thất thủ và sự hy sinh

Vào giữa năm 1887, quân Pháp phối hợp với lực lượng triều đình mở cuộc hành quân quy mô lớn đánh phá căn cứ Tân Tỉnh [1]. Mặc dù lực lượng nghĩa binh tổ chức kháng cự quyết liệt, nhưng do sự chênh lệch lớn về trang bị vũ khí và cơ cấu tổ chức còn lỏng lẻo, nghĩa quân liên tiếp chịu thất bại qua nhiều trận giao tranh [1]. Trước tình thế không thể cứu vãn, nhằm bảo toàn lực lượng và tránh tổn thất vô ích, Nguyễn Duy Hiệu quyết định giải tán số quân còn lại, cho binh lính rút về quê ẩn dật để chờ thời cơ [1].

Trong tình thế hiểm nghèo, Nguyễn Duy Hiệu bàn bạc với Phan Bá Phiến về kế hoạch ứng phó [1]. Là hai người đứng đầu phong trào, việc cùng chịu chết một lúc sẽ không mang lại lợi ích cho đại cuộc [1]. Nguyễn Duy Hiệu đề nghị người bạn chiến đấu hy sinh trước, còn bản thân sẽ ra hàng để chịu bắt [1]. Khi đối phương tra hỏi, Nguyễn Duy Hiệu dự định sẽ đứng ra nhận hết trách nhiệm về mình để gỡ tội, giải thoát cho các nghĩa quân khác [1].

Thấu hiểu tấm lòng và quyết định của người thủ lĩnh cùng chí hướng, Phan Bá Phiến khẳng khái nhận lời [1]. Ông sai người chuẩn bị hương án trang nghiêm, mặc phẩm phục chỉnh tề, rồi mang toàn bộ sổ sách và hồ sơ của Nghĩa hội ra thiêu hủy trước mặt Nguyễn Duy Hiệu cùng các cộng sự nhằm bảo vệ danh tính đồng đội [1]. Sau khi làm lễ lạy vĩnh biệt, ông uống thuốc độc tự vẫn [1].

Sau này, chí sĩ Phan Bội Châu đã dành những lời ca ngợi sâu sắc đối với khí tiết trung liệt của ông [1]. Trên tấm bia mộ của Phan Bá Phiến tại quê nhà, người đời sau vẫn còn đọc được dòng chữ Hán tóm lược phẩm cách của ông: “Thời quai lực kiệt, sát thân thành nhân” [1].

Nhằm ghi nhận những cống hiến cho lịch sử quê hương, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên ông cho một con đường dài 1.000 m, rộng 6 m tại phường Thọ Quang cũ (nay thuộc địa giới phường Sơn Trà), nối từ đường Ngô Quyền qua khu vực Đồn biên phòng 252 kéo dài ra phía biển [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Ngày sinh và ngày mất chính xác của ông; nguồn chỉ ghi năm sinh 1839 và thời điểm mất vào giữa năm 1887 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Địa điểm an táng cụ thể và hiện trạng khu mộ của Phan Bá Phiến hiện nay ở xã Tam Giang cũ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm ban hành quyết định đặt tên đường Phan Bá Phiến tại Đà Nẵng [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Phan Bá Phiến (1839 – 1887)”, 14/03/2012, https://danang.gov.vn/en/web/dng/-/phan-ba-phien-1839-1887-i, truy cập 23/10/2026.