Năm Nhâm Dần 1602 được ghi nhận là mốc lịch sử đối với vùng đất Quảng Nam khi chúa Nguyễn Hoàng vượt qua đèo Hải Vân để kinh lý và đặt dinh trấn [1]. Sự kiện này cũng gắn liền với quá trình hình thành các làng Việt đầu tiên tại vùng trung tâm Đà Nẵng [1]. Bối cảnh mở cõi của chúa Tiên xem thêm tại bài Nguyễn Hoàng và Đà Nẵng.
Khảo sát về thời điểm lập làng
Trong tác phẩm “Có 500 năm như thế” (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2012), nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú cho biết các dấu vết thời Sơ Việt tại khu vực trung tâm Đà Nẵng như bia cổ, mộ cổ đều không có niên đại nào trước năm 1600 [1]. Cuốn “Ô châu cận lục” do Dương Văn An soạn năm 1555 ghi chép 66 làng xã thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong (khi đó gồm cả khu vực Đà Nẵng và Hòa Vang cũ) [1]. Trong danh sách ấy, không xuất hiện các địa danh như Hải Châu, Thạc Gián, Chính Gián, Nam Dương, Phước Ninh, Xuân Hà, Thanh Khê [1]. Tài liệu năm 1555 chỉ nhắc đến các làng Yến Nê, Thúy Loan, Cẩm Lệ, Hóa Khuê, Liên Trì [1]. Theo nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú, những làng này đều mang nặng dấu ấn Chămpa và chưa ghi nhận tộc họ người Việt nào định cư trước năm 1600 [1].
Khảo sát gia phả 42 chư phái tộc của làng Hải Châu (nay thuộc phường Hải Châu) đến năm 2002 cho thấy không tộc nào có số đời vượt quá 17 [1]. Chẳng hạn, gia phả tộc Nguyễn Văn ở đường Phan Thanh ghi tổ đời thứ sáu là cụ Nguyễn Văn Chánh làm Xã trưởng Hải Châu thời Cảnh Hưng (1740 – 1786), có gốc từ Thanh Hóa di cư vào khoảng năm 1600 – 1615 [1]. Điều này cho thấy sự định cư của các dòng họ người Việt tại đây diễn ra sau mốc năm 1600 [1].
Dấu vết người Chăm và địa hình cũ
Theo tác giả bài báo và tác phẩm của Hồ Trung Tú, dù vùng đất này thuộc Đại Việt từ năm 1306 và nằm trên trục giao thông Bắc – Nam, người Việt suốt 300 năm trước năm 1600 khi di chuyển vào Nam đã không dừng lại lập làng vì người Chăm vẫn cư trú kín [1]. Trên địa bàn còn ghi nhận nhiều di tích Chămpa trải dài từ Nam Ô xuống Quá Giáng, lên Hòa Phong và qua Ngũ Hành Sơn [1]. Tác phẩm của Christoforo Borri năm 1621 cũng mô tả nhà sàn và trang phục nam nữ tại khu vực mang nhiều nét tương đồng với trang phục người Chăm, phản ánh sự hiện diện và dấu ấn văn hóa Chăm còn đậm nét sau năm 1600 [1].
Bên cạnh đó, bản đồ chiến sự năm 1858 do một vị quan người Việt vẽ (quân Pháp thu giữ ngày 15/9/1858) cho thấy vùng trung tâm Đà Nẵng khi đó vẫn là một làng chài và bãi cát lớn ven cửa sông Hàn với nhiều đầm lầy, kênh rạch và bàu nước [1]. Theo nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú, chỉ sau khi chính quyền được củng cố thì người Việt mới bắt đầu phát dọn lau sậy, dựng nhà định cư tại vùng bãi cát đầm lầy ven sông này [1].
Biến chuyển sau chuyến tuần du năm 1602
Năm Canh Tý 1600, Nguyễn Hoàng rời Đông Đô trở về Thuận Hóa sau 8 năm bị giam lỏng [1]. Đến năm Nhâm Dần 1602, ông tiến hành chuyến tuần du vào xứ Quảng Nam, nơi ông từng được cử làm Trấn thủ từ năm 1570 [1]. Theo sách “Lịch sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang (Nhà xuất bản Khai Trí, 1971), chúa đi qua núi Hải Vân, nhận định nơi đây là yết hầu của miền Thuận Quảng, rồi qua núi xem xét thế đất, cho lập dinh ở xã Cần Húc, lập kho chứa lương thực và cử công tử thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn giữ [1].
Theo tác giả bài báo, chuyến đi này nhằm biến Quảng Nam thành hậu phương vững mạnh [1]. Sau năm 1602, nhiều sự kiện lớn được tiến hành: xây dựng dinh trấn Thanh Chiêm, nhập huyện Điện Bàn vào dinh Quảng Nam, mở cửa buôn bán ở Hội An và mở rộng bờ cõi về phía nam [1]. Để tăng cường nhân lực, các đợt di dân quy mô lớn được thúc đẩy, kéo theo sự ra đời của nhiều làng xã mới [1]. Trong cuốn “Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam”, Huỳnh Công Bá đã liệt kê hàng chục ngôi làng hình thành thời kỳ này như Để Võng, Đông Bàn, Xuân Đài, Hoa Phong, Phiếm Ái, An Lưu, Cổ Lưu, Phong Hồ, Mông Nghệ [1]. Một số làng khác có truyền thuyết lập từ thời Lê Thánh Tông (1471) như Câu Nhi, Bằng An cũng có số đời tiền hiền dưới 18, cho thấy thời điểm lập làng trên thực tế có thể bắt đầu sau mốc 1602 [1].
Tra cứu liên quan
- Chúa Nguyễn: Nguyễn Hoàng và Đà Nẵng
- Dinh trấn và đèo ải: dinh trấn Thanh Chiêm, đèo Hải Vân
- Địa danh và di tích liên quan: đình Hải Châu, phường Hải Châu, Nam Ô, Ngũ Hành Sơn, sông Hàn
Điều còn chưa rõ
- Giới hạn cụ thể của xã Cần Húc nơi chúa Nguyễn Hoàng lập dinh năm 1602; nguồn báo chưa nêu vị trí tương ứng với địa bàn hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại chính xác khi các tộc tiền hiền làng Hải Châu cắm cọc dựng làng; nguồn chỉ ghi ước lượng khoảng 1600 – 1615 qua gia phả tộc Nguyễn Văn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh mục chi tiết các di tích Chămpa tại Đà Nẵng được bài báo nhắc tới [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Nhâm Dần 420 năm trước”, 23/01/2022, https://baodanang.vn/nham-dan-420-nam-truoc-3234074.html, truy cập 23/10/2026.