Văn hoá

Nghề rèn Hồng Lư ở Tam Kỳ

Xóm Hồng Lư thuộc làng Tứ Bàn nằm dọc bờ sông Bàn Thạch (trước 7/2025: khối phố Hồng Lư, phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ), nay thuộc phường Hương Trà [1][2]. Nơi đây hình thành nghề rèn thủ công theo phương thức cha truyền con nối để chế tác nông cụ và đồ dùng sinh hoạt [1][2].

Không gian trại rèn và dụng cụ làm nghề

Mỗi gia đình thợ rèn tại Hồng Lư thường dựng một trại rèn ở góc vườn, đặt dưới bóng các tán cây lớn như vú sữa, sưa hay mù u [1]. Trang bị làm nghề gồm có bể thổi lửa, đe, búa lớn, búa nhỏ, kìm kẹp giữ phôi rèn và bể chứa nước làm nguội [1].

Bể thổi được cấu tạo từ hai ống gỗ hình trụ cao khoảng 1,2 m, bên trong có cây thụt bể dài tương đương với ống [1]. Phần dưới cùng của cây thụt gắn miếng tán vừa khít lòng ống, làm bằng các sợi xác tơ tằm là loại thứ phẩm của tơ nhưng rất bền [1]. Hai ống bể nối thông với lò than bằng hai ống tre thông mắt dài gần 1 m, cùng dẫn hơi vào miệng máng sắt hướng thẳng vào lò [1]. Cụm ống bể đặt cách lò than khoảng 1 m; thợ thụt bể có chiều cao vẫn phải đứng trên ghế để kéo thụt tạo luồng gió nhịp nhàng giữ cho than cháy đỏ đều mà không bị vung tàn than ra ngoài [1].

Phân công lao động và kỹ thuật rèn đập

Cơ cấu kíp thợ gồm thợ chính (còn gọi là thợ trong) và thợ phụ (gồm thợ quai búa và thợ thụt bể) [1]. Thợ chính ngồi gần đe, tay cầm kìm cặp giữ phôi sắt và điều khiển toàn bộ thao tác bằng cách lật trở, xê dịch phôi sắt trên mặt đe để thợ phụ gõ búa chính xác vào từng vị trí [1]. Thợ phụ gồm người đứng xa cầm búa lớn có cán dài 0,5 – 0,6 m (còn gọi là thợ ngoài) và người thụt bể [1]. Khi làm việc, sự phối hợp giữa thợ chính điều khiển phôi và hai đến ba thợ phụ quai búa diễn ra liên tục, tạo hình cho vật dụng theo đúng yêu cầu [1].

Quy trình rèn trải qua các bước chọn sắt, cắt phôi phù hợp với kích thước đồ vật dự định chế tác, sau đó nung phôi đỏ trong lò [1]. Khi hoàn tất khâu đập tạo dáng sơ bộ là công đoạn làm nguội nhằm định hình hoàn chỉnh dụng cụ [1]. Sau đó là khâu tôi sắt, đòi hỏi kinh nghiệm quan sát độ đỏ của kim loại nung để nhúng vào bể nước [1]. Số lần tôi tùy thuộc vào từng loại sắt và tính năng yêu cầu của sản phẩm; nếu tôi quá già lửa kim loại sẽ giòn và dễ mẻ, còn non lửa thì lưỡi nông cụ sẽ không đủ độ cứng [1].

Sản phẩm và danh hiệu nghề truyền thống

Các sản phẩm do xóm rèn Hồng Lư làm ra phục vụ trực tiếp cho đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, gồm dao, rựa, lưỡi cày, cuốc, xẻng, liềm, hái, rìu [1][2]. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thợ rèn làng nghề từng tham gia chế tạo nhiều loại vũ khí và binh khí thô sơ phục vụ cho phong trào kháng chiến [1][2].

Trước đây, nguồn sắt làm phôi còn hạn chế nên thợ chủ yếu rèn theo đơn đặt hàng đơn lẻ của khách hoặc người buôn lẻ gánh đi bán dạo ở các vùng quê, không sản xuất hàng loạt [1]. Trước sản phẩm của các phân xưởng, nhà máy hiện đại, bài báo năm 2021 nhận định nghề rèn Hồng Lư dần bị mai một [1].

Vào ngày 11/9/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 2498 công nhận nghề rèn Hồng Lư là nghề truyền thống [2]. Để đạt được danh hiệu này, nghề rèn tại đây đáp ứng 3 tiêu chí theo quy định của chính quyền tỉnh: đã tồn tại ở địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và gắn liền với tên tuổi của nghệ nhân hoặc làng nghề [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm ban hành Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND: văn bản nguồn năm 2020 ghi ngày “9.7.2005”, có sự sai lệch giữa số hiệu năm 2015 và mốc thời gian năm 2005 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Số lượng lò rèn còn duy trì hoạt động thực tế tại khối phố Hồng Lư sau năm 2021 chưa được thống kê cụ thể trong các nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Nghề rèn Hồng Lư”, 09/03/2021, https://baodanang.vn/nghe-ren-hong-lu-3070749.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Nghề rèn Hồng Lư được công nhận danh hiệu nghề truyền thống”, 12/09/2020, https://baodanang.vn/nghe-ren-hong-lu-duoc-cong-nhan-danh-hieu-nghe-truyen-thong-3074989.html, truy cập 23/10/2026.