Làng Quảng Phú nằm kẹp giữa hai dòng sông Quảng Phú và Trường Giang, từng thuộc huyện Lễ Dương trước khi sáp nhập về phủ Tam Kỳ [1]. Địa bàn làng (trước 7/2025: phường An Phú và xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ), nay thuộc phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng [1]. Nơi đây từng được bài báo gọi là làng khoa bảng hàng đầu của huyện Lễ Dương thời Nguyễn nhờ nhiều người đỗ đạt cử nhân, tú tài [1].
Lịch sử hành chính và địa giới
Địa danh Quảng Phú không xuất hiện trong các tập sách Ô châu cận lục (1555) và Phủ biên tạp lục (1776) [1]. Danh xưng này bắt đầu được chép trong Địa bạ Gia Long (soạn khoảng 1812 – 1818), với tư cách là một xã thuộc tổng Hưng Thịnh Hạ, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa [1].
Theo Địa bạ Gia Long, làng có tứ cận rõ ràng: phía đông giáp xã Phú Quý Hạ, xã Tân Lộc Ngọc giáp, xã Ngọc Sơn (thuộc Liêm Hộ Hà Đông) và thôn Phú Thạnh, lấy cột đá làm mốc; phía tây giáp xã An Thái thuộc tổng An Thái Trung, xã An Hà và xã Ngọc Sơn, lấy đường làm giới; phía nam giáp xã Tân Lộc; phía bắc giáp xã An Thái, lập cột đá làm giới [1].
Về thời điểm chuyển giao hành chính sang khu vực Tam Kỳ, các văn bản cổ ghi nhận khác nhau [1]. Sách Đồng Khánh địa dư chí (1886 – 1887) ghi Quảng Phú vẫn thuộc tổng Hưng Thạnh Hạ của huyện Lễ Dương [1]. Đến năm 1919, Tạp chí BAVH ghi nhận làng thuộc tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ [1]. Tác giả bài báo đưa ra suy đoán rằng Quảng Phú có thể đã nhập về Tam Kỳ vào năm 1906 khi huyện Hà Đông nâng lên thành phủ, hoặc vào năm 1916 khi chính quyền tách bớt đất huyện Lễ Dương để bù vào lúc lập huyện Tiên Phước [1].
Giữa làng có ngọn núi Quảng Phú (thường gọi là núi Cấm) cao gần 50 mét [1]. Đây là một trong ba gò đồi gồm Trà Cai, An Hà và Quảng Phú tọa lạc tại ngã ba sông nơi các dòng nước Tam Kỳ, Trường Giang và Bàn Thạch hội tụ [1].
Nghề chẻ đá ong và nghề cào hến
Trước đây, sinh kế của người dân Quảng Phú chủ yếu dựa vào việc khai thác đá ong chân núi Cấm và cào hến trên sông [1]. Đất đá ong tại khu vực núi Cấm có màu nâu đỏ, chứa nhiều oxit sắt và nhôm, độ cứng cao sau phong hóa [1]. Thợ trong làng chẻ đá thành từng khối đưa đi tiêu thụ khắp các vùng trong tỉnh và chuyển ra tận Hội An để xây giếng, mồ mả, nhà cửa [1].
Bên cạnh nghề đá, cào hến trên dòng sông Quảng Phú cũng là nghề mưu sinh phổ biến [1]. Cuốn sách Làng xã xưa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ ghi lại câu hát dân gian mô tả cuộc sống lam lũ của người dân: “Lấy chồng Quảng Phú ăn chi / Lúa gieo chẳng có lúa trì cũng không / Nhờ ba con hến dưới sông / Chồng cào, vợ xúc chổng mông lên trời” [1].
Đất khoa bảng thời Nguyễn
Dấu tích khoa bảng của làng Quảng Phú được ghi lại trên 7 tấm bia đá có tên Lễ Dương huyện khoa hoạn bi chí [1]. Bộ bia này trước đây đặt ở Văn thánh huyện Lễ Dương, về sau được đưa về lưu giữ tạm thời tại nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam ở Hà Lam [1]. Văn bia ghi nhận làng Quảng Phú có 2 cử nhân và 7 tú tài dưới triều Nguyễn [1].
Hai vị đỗ cử nhân của làng gồm Doãn Văn Xuân và Nguyễn Văn Xán [1]. Doãn Văn Xuân không rõ năm sinh, đỗ Hương cống khoa Kỷ Mão (1819), là người đầu tiên của huyện Lễ Dương đỗ Hương cống (“Công vi bổn huyện Hương cống thủy”) [1]. Ông từng giữ các chức Hành tẩu bộ Lễ, Giáo đạo, Hàn lâm viên tu soạn, Lang trung bộ Lễ, Án sát sứ Bắc Ninh và Quảng Yên [1]. Do liên đới trách nhiệm trong việc quản lý tàu thuyền, ông từng bị cách chức, sau đó được tái bổ chức Lang ngoại viên bộ Lại, Lang trung đạo Lương Trừ ở Trấn Tây thành, Án sát sứ Định Tường [1]. Ông qua đời khi đang tại chức vào tháng 11/1836, sau đó được triều đình truy tặng chức Lễ bộ Thị Lang vào năm 1843 [1].
Người thứ hai là Nguyễn Văn Xán (tên cũ là Nguyễn Văn Hưng), sinh năm 1828, đỗ tú tài khoa 1842 và đỗ cử nhân khoa 1848 [1]. Ông từng giữ các chức Quyền quản Thăng Bình phủ dõng, Huấn đạo huyện Hà Đông, Giáo thụ, Quản đạo Phú Yên, Chánh sơn phòng sứ Quảng Nam, rồi qua đời khi đang tại chức vào năm 1881 [1].
Bảy vị đỗ tú tài gồm Doãn Văn Đỗ (khoa 1813), Trương Văn Tuyển (khoa 1831), Trương Văn Tố (khoa 1842), Trương Công Liêm (khoa 1846), Trương Phổ (khoa 1867), Nguyễn Văn Đạt (khoa 1870) và Nguyễn Nhượng (khoa 1873) [1]. Trong đó, Doãn Văn Đỗ là anh ruột của Doãn Văn Xuân, đỗ sinh đồ đầu tiên của huyện Lễ Dương (“Văn Xuân chi huynh, vi bổn huyện sinh đồ thủy”) [1]. Trong 7 vị tú tài, có 4 người thuộc tộc Trương, chia thành hai cặp anh em ruột: Trương Văn Tuyển – Trương Văn Tố và Trương Công Liêm – Trương Phổ [1].
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: ba ngọn núi Quảng Phú, An Hà, Trà Cai.
- Địa bàn hành chính: phường Quảng Phú
- Vùng đất lân cận: Tam Kỳ
- Địa bàn huyện lỵ cũ: Hà Lam
- Nơi lưu giữ bia khoa bảng: nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam
Điều còn chưa rõ
- Thời điểm chính xác làng Quảng Phú chuyển từ huyện Lễ Dương sang huyện Hà Đông hoặc phủ Tam Kỳ; các mốc 1906 hay 1916 chỉ là giả thuyết suy đoán của tác giả bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm sinh của cử nhân Doãn Văn Xuân không thấy văn bia hay tài liệu ghi lại [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Làng khoa bảng hàng đầu của Lễ Dương xưa”, 01/01/2023, https://baodanang.vn/lang-khoa-bang-hang-dau-cua-le-duong-xua-3235240.html, truy cập 23/10/2026.