Theo các bậc cao niên, tên làng Hà My mang ý nghĩa doi đất nằm bên cạnh dòng sông [1]. Làng Hà My (trước 7/2025: xã Điện Dương, thị xã Điện Bàn), nay thuộc phường Điện Bàn Đông [1]. Địa bàn làng trải dài cạnh dải cát và bờ biển Hà My [1].
Tên gọi và các đợt tiền hiền lập làng
Theo các bậc cao niên được bài báo dẫn lại, từ “hà” có nghĩa là sông, “my” là doi hoặc nổng đất [1]. Trong thời kỳ đầu lập làng, nơi đây có tên là xứ Hà Tôm, thuộc địa hạt huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, đạo thừa tuyên Quảng Nam [1]. Gia phả tộc Nguyễn tại làng ghi nhận đến năm 1820, vua Minh Mạng cho đổi tên xứ Hà Tôm thành xã hiệu Hà My, thuộc tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn, trấn Quảng Nam [1].
Cũng theo gia phả tộc Nguyễn, khoảng năm 1480, làng có 17 vị thủy tổ tiền hiền từ Hải Dương, Vĩnh Phú, Thanh Hóa và Nghệ An vào khai khẩn lập nghiệp [1]. Danh sách 17 vị gồm: Văn Công Tiên, Nguyễn Thế Lực, Trần Văn Bản, Nguyễn Văn Minh, Phạm Văn Quang, Phạm Văn Sử, Lê Doãn Khánh, Lê Công Lương, Nguyễn Phước An, Nguyễn Văn Tài, Đỗ Văn Tri, Cao Đăng Hiếp, Trần Ngãi Núc, Nguyễn Núc, Bùi Thanh Dân, Lê Đài và Phạm Quang Huy [1]. Đến khoảng năm 1500, có thêm đoàn di dân thứ hai từ phía Bắc vào Hà My gồm 10 vị: Nguyễn Văn Dưỡng, Trần Văn Có, Đinh Văn Lâu, Nguyễn Văn Lân, Trương Văn Chiến, Trần Phước Rồng, Trần Duy Đức, Phan Bá Điển, Trần Văn Tuấn và Võ Đình Thắng [1].
Không gian xóm ấp và cơ sở tín ngưỡng
Từ mốc đổi tên năm 1820, hệ thống tên ấp và xóm của làng Hà My hình thành, bao gồm xóm Trung, xóm Tây, xóm Đông, xóm Trảng Cát, Gò Nông, Sa Khê, Văn Kinh, Thăng Liên, xóm Huế, xóm Nò và xóm Lờ [1]. Dân làng khai hoang nhiều cánh đồng như Hà Thại, Hà Lầy, Đập Ông, Bờ Mới, Trảng Hớn, Trảng Sĩ, Trảng Thiều, kinh Thủy Kỳ, Cây Duối, Hà Chang, Bảy Rẫy, Khe Trong, Trảng Cỏ, Bồ Đề, Khúc Giá và Sông Trên [1]. Phía biển có Lăng Ông cùng bến Trên và bến Dưới; trên sông Hà Sấu có bến Tàu xóm Hải Chữ và Cồn Đội làm nơi tàu thuyền ghé buôn bán hoặc trú bão mùa lũ [1].
Nhằm ngăn triều cường ngập mặn xâm nhập đồng ruộng, người dân địa phương đã đắp các đoạn đê đập mang tên bờ Thanh niên, bờ Phụ nữ và đập Ông Sắc [1]. Giao thông trong làng gắn với cầu Xã Nhi, cầu Ông Điền và cầu Nghĩa Tự, bên cạnh những rặng dừa nước và rừng dương liễu chắn gió ven bờ biển [1]. Đến thời điểm bài báo ghi nhận năm 2013, làng Hà My được chia thành 4 thôn gồm Hà My Đông A, Hà My Đông B, Hà My Trung và Hà My Tây [1].
Nguồn tư liệu của bài báo liệt kê làng từng có nhiều đình miếu như miếu xóm Trung, xóm Tây, xóm Đông, miếu Văn Kinh, Thăng Liên, Hải Chữ, Trảng Cát, Gò Nông, Vạn Hà My, phổ Đồng Chè, phổ Ông Thêm, miếu Ông Phú, miếu Ông Trị, miếu Phổ Long, miếu Bồ Đề, miếu xóm Sa Khê và ngôi đình làng Hà My [1]. Tại khu rừng Hà My có chùa Bửu Long Phật đường; hữu ngạn sông Hà Sấu có miếu thờ Long Vương và lăng bà thờ cá sấu [1]. Ngôi nhà thờ tiên tự của làng thờ 59 họ tộc bị hư hại trong chiến tranh; sau nhiều lần trùng tu, năm 2011 Ban đại diện Hội đồng chư tôn tộc vận động con cháu đóng góp xây dựng lại, tổng kinh phí hơn 650 triệu đồng theo bài báo [1].
Nhân vật lịch sử và giai thoại dân gian
Trong giai đoạn phong trào Nghĩa hội Quảng Nam nổ ra dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Duy Hiệu, làng Hà My có ông Nguyễn Hữu Bành (thường gọi là ông Bếp Bành) tham gia và là người thân cận của chủ tướng [1]. Sau khi phong trào bị dập tắt, ông Bếp Bành bị đối phương bắt giữ và xử chém tại khu vực Cây Trâm, huyện Thăng Bình [1]. Làng cũng có tên trong danh sách quê hương của nhiều nhân vật được bài báo nhắc đến như đô đốc Ngữ, đô đốc Tâm, cùng các hương chức địa phương thời trước gồm xã Nhúm, xã Giêng, xã Nhạc và xã Chất [1].
Bên cạnh đó, các giai thoại dân gian trong làng còn lưu truyền câu chuyện về những người hành nghề chữa bệnh và dạy học [1]. Trong đó có thầy Thuần từng được triều đình Huế triệu ra kinh đô chữa bệnh cho vua; thầy Ba Phụng với lời truyền có tài bắt ấn vượt sông; thầy Thận hành nghề bốc thuốc giúp dân; cùng thầy Nghê mở trường dạy học và thầy phó Dục hay chữ [1].
Thời kỳ chiến tranh và vụ việc năm 1968
Tại địa bàn xã Điện Dương cũ, chi bộ Đảng thành lập sớm; Đại hội Đảng bộ xã lần thứ nhất diễn ra năm 1948 tại nhà bà Chương [1]. Đến tháng 4/1952, Đại hội lần thứ 2 của Đảng bộ xã Điện Dương được tổ chức tại đình làng Hà My [1]. Khi ấy, khuôn viên đình có một cây sợp cổ thụ rỗng thân, bên trong chứa được cả một tiểu đội và được dùng làm chỗ quan sát các cuộc hành quân của quân đối phương [1]. Ngày 23/10/1955, theo bài báo, dân làng Hà My kéo xuống Hội An phản đối cuộc trưng cầu dân ý do chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức [1].
Theo bài báo, từ năm 1966 lữ đoàn Rồng Xanh của quân đội Nam Triều Tiên đóng quân tại Hà My và xây dựng 2 sân bay tại đây [1]. Vào một buổi sáng sớm năm 1968, binh lính lữ đoàn Rồng Xanh đã bắn chết 24 ngư dân đang kéo lưới tại khu vực bến Ông Đậu [1]. Tiếp đó, ngày 24/2/1968, lực lượng này vào xóm làng, dồn 135 người dân xóm Hà My Tây vào khu nhà thờ rồi nã súng sát hại, trong đó đa phần là người già, phụ nữ và trẻ em [1]. Hiện tại xóm Tây đã dựng một bia tưởng niệm ghi dấu sự kiện tháng 2/1968 này [1]. Theo bài báo, xóm Tây có 64 liệt sĩ và 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; riêng gia đình ông Nguyễn Điểu có 11 liệt sĩ [1].
Tra cứu liên quan
- Vị trí hành chính: phường Điện Bàn Đông, bảng tra phường xã Đà Nẵng, bảng quy đổi quận huyện cũ
- Điểm đến ven biển: biển Hà My
- Nhân vật và phong trào: Nghĩa hội Quảng Nam, Nguyễn Duy Hiệu, danh sách danh nhân xứ Quảng
Điều còn chưa rõ
- Hiện trạng các ngôi miếu xóm, chùa Bửu Long và lăng bà thờ cá sấu sau năm 2013 chưa được nguồn ghi nhận [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Ranh giới và số thôn cụ thể của làng Hà My sau đợt sáp nhập hành chính tháng 7/2025; nguồn báo chỉ phản ánh 4 thôn tính đến năm 2013 [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm sinh, năm mất cụ thể của ông Nguyễn Hữu Bành (ông Bếp Bành) và các vị đô đốc Ngữ, đô đốc Tâm [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Hà My, đất và người”, 26/04/2013, https://baodanang.vn/ha-my-dat-va-nguoi-3000102.html, truy cập 23/10/2026.