Văn hoá

Nghề guốc mộc Nam Ô

Sườn núi xanh và vịnh biển nhìn từ đèo Hải Vân
Sườn núi xanh và vịnh biển nhìn từ đèo Hải Vân. Ảnh minh hoạ: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Nghề làm guốc mộc từng gắn liền với đời sống của người dân hai làng Nam Ô và Xuân Dương (trước 7/2025: phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu), nay thuộc phường Hải Vân [1]. Theo bài báo của tác giả Đặng Dùng, nghề này có thể đã hình thành cả trăm năm, do một người thợ từ kinh đô Huế truyền dạy [1]. Sản phẩm guốc mộc từng được vận chuyển ra Huế và đưa đi tiêu thụ tại nhiều tỉnh miền Trung [1].

Nguồn gốc từ người thợ Huế và chuyện bến Bà Tân

Theo lời ông Lê Văn Toán, một thợ làm guốc cao niên, nghề guốc mộc tại Nam Ô bắt nguồn từ một người thợ lành nghề ở kinh đô Huế đến vùng đất này [1]. Khi nhận thấy nguồn gỗ tại Nam Ô dồi dào và dễ khai thác, người thợ này ở lại hành nghề rồi truyền lại cho các thế hệ sau ở làng Nam Ô [1]. Guốc làm ra thời kỳ đầu phần lớn bán ra thị trường kinh đô Huế [1].

Dân gian trong vùng còn truyền lại câu chuyện về xứ Ba Sơn, tức vùng đất ghép tên giữa Hoa Ổ (xem thêm tên gọi Nam Ô) và Xuân Sơn (tức Xuân Dương) [1]. Tại đây từng có người phụ nữ tên là bà Tân làm nghề mang guốc từ Nam Ô ra Huế bán [1]. Bà được tuyển vào cung dưới thời vua Khải Định, phong đến bậc Tân phi [1]. Sau khi vua băng hà, bà được Đức Từ Cung cho về lại quê nhà, dựng một phương đình hình vuông bên bờ sông Cu Đê [1]. Sau khi bà mất, khúc bến đò nơi cửa sông được người dân gọi là bến Bà Tân [1].

Nguồn gỗ và các công đoạn làm guốc

Gỗ làm guốc được tiều phu khai thác từ rừng đầu nguồn sông Cu Đê, kết thành bè thả trôi về tập kết tại bến Bà Tân rồi chia cho các xưởng [1]. Thợ dùng các loại gỗ nhẹ và mềm gồm cây chiêm chiêm, cây mứt có thớ gỗ trắng, cây xác mướp hoặc cây sầu đông màu ngà [1]. Dụng cụ của thợ làm guốc gồm cưa, rìu, đục, chàng, đục nảy, đục dũm, bào, đá mài và bút chì [1].

Quy trình chế tác gồm nhiều công đoạn nối tiếp nhau [1]: – Phân khúc và đẽo thô: thân cây lột vỏ, để nơi râm mát, dùng cưa cắt theo kích cỡ đôi guốc, sau đó dùng rìu chẻ và đẽo gọi là “tả” để tạo hình khối thô [1]. – Tạo mặt và định hình: dùng chàng xả lượn mặt guốc, đặt rập mẫu rồi lấy bút chì vẽ hình mặt guốc từng chiếc phải, trái; sau đó dùng chàng bản rộng vanh xung quanh để thành hình chiếc guốc [1]. – Nảy gót: dùng đục nảy khoét sâu vào đế guốc thô [1]. – Bổ và gọt gót: dùng bào làm láng mặt cùng thành guốc, chuốt mép cạnh gọi là “bổ”, sau đó gọt gót so đôi hai chiếc thật đều nhau trước khi đem phơi nắng [1]. – Tạo lõm và giảm trọng lượng: dùng đục dũm khắc vết lõm trên mặt để ôm sát lòng bàn chân; với guốc cao gót hoặc xuồng đục, thợ dùng khoan khoét bớt phần đáy gỗ cho guốc nhẹ bớt [1].

Để đáp ứng số lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường, các xưởng làm guốc mộc chia việc theo dây chuyền, mỗi người đảm nhận chuyên trách từng công đoạn riêng [1].

Thời kỳ phát triển và sự suy giảm

Theo lời ông Lê Văn Toán, nghề guốc mộc phát triển mạnh nhất vào thập niên 1940, 1950 và 1960 với khoảng 20 hộ tham gia sản xuất [1]. Trung bình mỗi ngày một người thợ làm việc tích cực có thể tạo vài chục đôi guốc [1]. Vào khoảng năm 1960, mỗi đôi guốc bán được 3 đồng 2 [1]. Ngoài thị trường Huế, guốc Nam Ô còn được chuyển đến các địa phương miền Trung như Quảng Ngãi, Quảng Trị, Bình Định, Phú Yên và Nha Trang [1].

Làng nghề cung cấp phôi guốc mộc cho các cơ sở sơn thành phẩm [1]. Tại Huế có xưởng sơn Ông Phụ ở Tây Lộc và xưởng Bà Bướm ở Bao Vinh; tại Đà Nẵng có xưởng sơn Ông Mãi, xưởng Bà Bốn Đường và xưởng Hồng Anh [1]. Trong những năm 1979 – 1980, Nam Ô có thêm những xưởng sơn mới khi nghề sơn chuyển từ sơn Nam sang sơn tây dễ làm hơn; các cơ sở thắp đèn măng-sông làm việc ban đêm để cung cấp các đôi guốc sơn trắng hình “hài thuyền” uốn cong hai đầu cho nữ sinh [1].

Theo bài báo đăng tháng 6/2021, nghề guốc mộc Nam Ô khi ấy đã lùi vào hoài niệm [1]. Nhiều nghệ nhân cao tuổi đã mất, những người còn lại tuổi đã cao, và nhiều người trẻ không còn biết đến tiếng guốc mộc [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Danh tính cụ thể và thời điểm người thợ kinh đô Huế đến Nam Ô truyền nghề chưa được tư liệu ghi chép [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Họ của bà Tân: bài báo cho biết không ai còn nhớ; năm sinh, năm mất cũng chưa rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm chính thức ngừng hoạt động của cơ sở sản xuất guốc mộc cuối cùng tại Nam Ô [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Guốc mộc Nam Ô một thời vang bóng”, 13/06/2021, https://baodanang.vn/guoc-moc-nam-o-mot-thoi-vang-bong-3233550.html, truy cập 24/10/2026.