Lịch sử

Gia phả họ Lưu ở Ngũ xã Trà Kiệu

Đền tháp gạch Champa ở Mỹ Sơn
Đền tháp gạch Champa ở Mỹ Sơn. Ảnh minh hoạ: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons.

Gia tộc họ Lưu tại Ngũ xã Trà Kiệu hiện còn gìn giữ một bản gia phả cổ viết bằng chữ Hán từ thế kỷ 19 [1]. Bản tài liệu này do tú tài Lưu Duy Hàn biên soạn vào năm Tự Đức thứ 26 (1873), ghi chép về các thế hệ của dòng họ và việc khai khẩn vùng đất Trà Kiệu [1]. Theo bài viết trên Báo Quảng Nam, văn bản này là một nguồn tư liệu quý thuộc hệ thống gia phả xứ Quảng giúp soi sáng nhiều địa danh và sự kiện lịch sử địa phương [1].

Thủy tổ Lưu Văn Giám và buổi đầu lập làng

Theo Báo Quảng Nam, chuyện kể rằng khi vua Lê Thánh Tông đem quân vào phương Nam năm 1471, có 13 vị thủy tổ của 12 tộc tại vùng Thanh Hóa – Nghệ An đi theo [1]. Sau cuộc chiến, họ ở lại vùng đất này để vỡ đất, lập xóm làng và trở thành các vị tiền hiền của Ngũ xã Trà Kiệu, trong đó có ông Lưu Văn Giám [1]. Công lao khai khẩn của các tiền hiền đã biến nơi đây thành làng quê trù phú trong nhóm “Quảng Nam tam đại xã”, gắn với câu dân gian “nhất Trà Kiệu, nhì La Qua, ba Tú Tràng” [1].

Gia phả họ Lưu ghi rõ thủy tổ Lưu Văn Giám từ phương Bắc đến đặt nền móng, có công khai khẩn và khi qua đời được an táng tại xứ đất Cửa Eo, Hàm Rồng [1]. Thần vị của ông hiện vẫn được phối thờ tại tự đường tiền hiền Ngũ xã Trà Kiệu [1].

Tài liệu dòng họ cũng cho biết mộ ông Lưu Văn Giám ban đầu táng ở Cửa Eo [1]. Đến khoảng năm 1935 – 1937, khi chính quyền thuộc địa Pháp làm tuyến đường xe lửa Đà Nẵng – Quảng Ngãi đi qua vị trí ngôi mộ, tộc Lưu cùng các phái tộc Ngũ xã Trà Kiệu đã cải táng mộ về Gò Dỗi [1]. Trong ký ức con cháu, khi cải táng, chính giữa ngôi mộ có một hũ sành lớn mang hoa văn chứa tro cốt, bốn góc xung quanh có các hũ nhỏ hơn [1].

Người biên soạn bản gia phả năm 1873

Tác giả biên soạn bản gia phả là tú tài Lưu Duy Hàn, còn có tên gọi là Lưu Văn Ưng hay Ký, người đỗ tú tài khai khoa của họ Lưu tại Duy Xuyên (trước 7/2025: huyện Duy Xuyên) [1]. Ông là một nhà nho làm nghề dạy học và bốc thuốc chữa bệnh [1]. Ông là học trò của thầy Nguyễn Huy người Trà Kiệu, đồng thời là bạn đồng môn với Thượng thư Phạm Phú Thứ [1].

Vào năm 1871, ông Lưu Duy Hàn đã trực tiếp đứng ra vận động bạn bè đồng môn đóng góp kinh phí tu sửa đền thờ và xây mộ cho thầy giáo của mình [1]. Sự việc này được Thượng thư Phạm Phú Thứ ghi lại trong “Bài ký trùng tu đền thờ quan Thái thường tự Thiếu khanh Nguyễn tiên sinh” [1]. Tên của tú tài Lưu Duy Hàn hiện còn khắc trên tấm bia ghi công đức học trò tại khu mộ cụ Nguyễn Huy [1].

Đến năm 1886, phong trào Nghĩa hội Quảng Nam bùng nổ và Trà Kiệu trở thành một địa bàn hoạt động của nghĩa quân [1]. Vì là thầy thuốc nên cả hai bên Nghĩa hội và Công giáo đều muốn ông phục vụ; bị đặt vào tình cảnh khó xử, ông lên làng Giao Thủy (trước 7/2025: xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc), nay thuộc xã Đại Lộc, định cư và hình thành một chi phái họ Lưu tại đây [1]. Đến năm Đinh Dậu (1897), ông trở về Trà Kiệu tổ chức lễ trai đàn chẩn tế kéo dài ba ngày ba đêm [1].

Giá trị tư liệu và các địa danh cổ

Theo nhận xét của ông Ngô Đức Chí (chuyên gia Hán – Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ), bản gia phả viết bằng chữ Hán theo lối Hành thư, có nhịp điệu và thư phong đúng với niên đại ra đời [1]. Đây là bản gia phả ghi chép cẩn thận các thế hệ, trình bày khoa học và có giá trị cho việc tìm hiểu lịch sử địa phương [1].

Cùng với gia phả năm 1873, dòng họ Lưu còn giữ bản văn trai đàn chẩn tế viết tay trên giấy dó lập ngày 17 tháng 6 năm Đinh Dậu (1897) [1]. Các tài liệu này nhắc đến nhiều địa danh cổ tại vùng đất Trà Kiệu như Cửa Eo, Eo Gió, Hàm Rồng, Gò Chiêu, Miễu Ông, Trung Đông và “xứ Thành” [1]. Trong đó, khu đất vườn của con cháu họ Lưu thời sau được văn bản cổ gọi là “Thành xứ”, tức chỉ dấu tích thành Trà Kiệu xưa [1]. Địa danh “Eo Gió” từng được ghi nhận trên bản đồ thời Hồng Đức (Giáp Ngọ bình đồ) cách đây hơn 500 năm, cùng với “Eo Bắc” bên trong đèo Hải Vân theo bài báo là những vị trí chiến lược về quân sự cổ, nằm trên con đường được vẽ trong bản đồ [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm sinh và năm mất chính xác của tú tài Lưu Duy Hàn; bài báo chỉ nêu các mốc năm 1871, 1873, 1886 và 1897 gắn với hoạt động của ông [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Hiện trạng lưu giữ chi tiết và địa điểm bảo quản bản gốc của hai văn bản Hán – Nôm tại nhà thờ tộc Lưu hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Hiểu thêm về Trà Kiệu qua một bản gia phả cổ”, 15/06/2023, https://baodanang.vn/hieu-them-ve-tra-kieu-qua-mot-ban-gia-pha-co-3026561.html, truy cập 24/10/2026.