Nhà thờ tiền hiền Ngũ xã Trà Kiệu tọa lạc tại xứ Hoàn Châu, nay thuộc địa bàn xã Duy Xuyên (trước tháng 7/2025: xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên) [1][2]. Công trình là nơi thờ phụng chung của các bậc tiền nhân khai phá vùng đất Trà Kiệu từ thế kỷ 15 [1][2]. Năm 2005, ngôi nhà thờ được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia [1][2].
Nguồn gốc mở đất và danh xưng Ngũ xã
Vào năm 1471, trong cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông, 13 vị tiền hiền xuất thân từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã dừng chân bên hữu ngạn sông Thu Bồn [1][2]. Khu đất khai hoang ban đầu hơn 400 mẫu nằm trên nền kinh thành Simhapura (Thành Sư tử) xưa của vương quốc Champa [1][2]. Làng mạc dần hình thành và xã hiệu Trà Kiệu ra đời, thuộc huyện Hy Giang, phủ Thăng Hoa [1].
Mười ba vị tiền hiền thuộc 12 dòng họ gồm Lê Đình, Lưu Văn, Nguyễn Thanh (hai tộc), Nguyễn Quang, Nguyễn Đình, Nguyễn Đăng, Đinh Công, Nguyễn Thành, Nguyễn Như, Nguyễn Tá, Lê Quang và Lê Văn [1]. Đến năm 1661 dưới triều vua Lê Huyền Tông, danh sách khắc trong Kim bảng – Bài vị tại tiền hiền đã tăng lên 63 tộc phái [1]. Sổ bộ điền thổ lập từ thời vua Gia Long dày 840 trang ghi nhận diện tích ruộng đất công tư của Trà Kiệu đạt khoảng 1.525 mẫu [1]. Trong dân gian xứ Quảng từng lưu truyền câu nói “Nhất Trà Kiệu, nhì La Qua, ba Tú Tràng” để chỉ ba làng xã có quy mô lớn nhất vùng [1][2].
Năm 1905 (năm Thành Thái thứ 18), để thuận tiện trong quản lý hành chính, xã Trà Kiệu được chia tách thành 5 xã nhỏ gồm Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Trung, Trà Kiệu Tây và Trà Kiệu Thượng [1][2]. Danh xưng “Ngũ xã Trà Kiệu” xuất hiện từ mốc thời gian này [1][2].
Lịch sử khởi dựng và phối thờ
Theo tư liệu địa phương, ngôi nhà thờ tiền hiền chung của Trà Kiệu xã được khởi dựng vào năm 1680 dưới triều vua Lê Hy Tông (niên hiệu Chính Hòa, 1680 – 1705) tại xứ Hoàn Châu [1][2]. Ban đầu, công trình được lập để thờ phụng 13 bậc tiền hiền của 12 dòng tộc [2]. Cùng với nhà thờ tiền hiền, cộng đồng cư dân Trà Kiệu thời kỳ này còn dựng đình làng thờ các vị thần linh, văn thần, võ chức và xây dựng chùa Trà Kiệu [1].
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ngôi nhà thờ từng phải hạ giải để thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến [2]. Về sau, công trình được phục dựng và trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo [2]. Vào ngày Đông chí năm 2015, ban đại diện các tộc họ đã tổ chức lễ an vị sau đợt trùng tu lớn và chính thức khánh thành vào dịp tế xuân năm 2016 [1].
Hiện nay, nhà thờ tiền hiền là nơi thờ phụng 70 vị tiền hiền, hậu hiền và thủy tổ của 64 chư tộc phái [1][2]. Hệ thống thờ tự gồm 13 vị tiền hiền, 4 vị thứ thế tiền hiền, 1 vị khai quốc công thần, 13 vị hậu hiền, 7 vị hậu hiền của Trà Kiệu Thượng và 32 vị liệt tổ [1]. Vị khai quốc công thần được phối thờ tại đây là Thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống (1542 – 1617), một trong những nhân vật phụng sự thời kỳ đầu của các chúa Nguyễn [2]. Ngôi nhà thờ hiện còn lưu giữ hệ thống bài vị, sắc phong cùng các sổ bộ điền tịch cổ lưu truyền qua nhiều đời [1]. Ngày 25/01/2005, Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành Quyết định số 68/2005/QĐ-BVHTT xếp hạng Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu là Di tích lịch sử cấp quốc gia [1][2].
Lễ hội truyền thống Ngũ xã Trà Kiệu
Dù địa giới hành chính qua các thời kỳ có sự chia tách, con cháu các chư tộc vùng Ngũ xã vẫn duy trì chung nếp cúng tế tổ tiên tại nhà thờ tiền hiền [1]. Lễ hội được tổ chức thường niên vào dịp mùng 10 tháng 3 âm lịch và cứ 5 năm lại tổ chức một kỳ đại lễ [1][2]. Vào các năm 2016 và 2026, các kỳ lễ hội kỷ niệm mốc 545 năm và 555 năm hình thành Trà Kiệu đã diễn ra [1][2].
Các nghi lễ kéo dài nhiều ngày, gồm các khoa mục cổ truyền như tế ngoại đàn, tế túc yết, dâng lễ vật, nghi thức hát lễ tuồng cổ kéo dài 15 – 20 phút do các nghệ sĩ tuồng biểu diễn, tiếp theo là lễ phục vị, điểm trà và lễ tạ tiên linh [1]. Sau phần nghi lễ trang nghiêm là phần dâng hương của đại diện các chi tộc và các đoàn người hành hương, không phân biệt tôn giáo [1][2]. Phần hội có các hoạt động diễn xướng tuồng của đoàn tuồng Sông Thu, hô hát bài chòi, viết tặng thư pháp cùng các trò chơi dân gian [1][2]. Kinh phí tổ chức các kỳ lễ hội hoàn toàn do con cháu Hội đồng chư tộc phái và nhân dân địa phương đóng góp theo hình thức xã hội hóa [1].
Tra cứu liên quan
- Địa bàn và lịch sử: Trà Kiệu, xã Duy Xuyên, sông Thu Bồn
- Nhân vật và di sản lân cận: Mạc Cảnh Huống, Hội An, Mỹ Sơn
Điều còn chưa rõ
- Kiến trúc nguyên bản năm 1680: các nguồn báo chỉ ghi năm khởi dựng 1680 mà chưa nêu rõ quy mô kích thước và cấu trúc vật liệu ban đầu của công trình trước khi bị hạ giải trong chiến tranh chống Pháp [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh mục chi tiết các sắc phong: bài báo ghi nhà thờ lưu giữ nhiều sắc phong cổ nhưng chưa công bố cụ thể niên đại các triều vua ban sắc [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “545 năm Ngũ xã Trà Kiệu: Tưởng nhớ tiền nhân khai mở đất”, 15/04/2016, https://baodanang.vn/545-nam-ngu-xa-tra-kieu-tuong-nho-tien-nhan-khai-mo-dat-3028790.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Người Lao Động, “Như cây có cội, như sông có nguồn”, 25/04/2026, https://tuoitre.vn/nld/nhu-cay-co-coi-nhu-song-co-nguon-196260424211449145.htm, truy cập 23/10/2026.