Con người

Nguyễn Hữu Nhượng, Tế tửu Quốc Tử giám người Trà Nhiêu

Nguyễn Hữu Nhượng (còn có tên Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhượng), hiệu Tĩnh Trai, là vị quan triều Nguyễn từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử giám tại kinh đô Huế [1]. Ông quê ở làng Trà Nhiêu (trước tháng 7/2025 thuộc xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên cũ; nay thuộc xã Nam Phước của thành phố Đà Nẵng) [1]. Ông là một trong 26 nhân vật của tỉnh Quảng Nam được Quốc sử quán triều Nguyễn đưa vào sách “Đại Nam nhất thống chí” [1].

Dấu tích lăng mộ ở cánh đồng Hà Lăng

Theo bài viết của Võ Hồng Việt trên Báo Quảng Nam, năm 2014, trong đợt khảo sát tư liệu, di tích liên quan đến thương cảng Hội An tại làng Trà Nhiêu và làng Bàn Thạch thuộc xã Duy Vinh cũ, nhóm của tác giả tình cờ gặp ngôi mộ xây bằng hợp chất vôi ghè tại cánh đồng Hà Lăng [1]. Ngôi mộ có hai tấm bia bằng đá cẩm thạch chạm khắc hoa văn rồng dây, chim phụng, mặt nhật, mây cuộn và cá hóa long [1].

Tấm bia gắn ở bình phong hậu dựng vào ngày 8 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), khắc chữ Hán nội dung: “Đại Nam Cáo Thụ Trung Thuận Đại Phu Tán Trị Doãn Quốc Tử Giám Tế Tửu thụy Đoan Cẩn hiệu Tĩnh Trai Nguyễn phủ quân chi mộ” [1]. Tấm bia phía trước lập ngày 29 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), khắc dòng chữ: “Sắc tặng Trung Nghị Đại Phu Quang Lộc Tự Khanh thụy Hiến Tĩnh Nguyễn phủ quân chi mộ” [1]. Nội dung hai văn bia cho biết người nằm dưới mộ giữ chức Tế tửu Quốc Tử giám ở Huế và được triều đình sắc truy tặng Trung Nghị Đại Phu Quang Lộc Tự Khanh vào năm Thiệu Trị thứ 2 [1].

Thân thế và sự khác biệt tên gọi trong thư tịch

Theo gia phả tộc Nguyễn ở Trà Nhiêu, văn bia tại mộ và ghi chép năm 1847 của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ, thân phụ của ông là Nguyễn Văn Hiển, gốc tộc Nguyễn ở Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào lập nghiệp tại xã An Xuân, tổng Xuân Phú Trung, huyện Quế Sơn [1]. Đến đời ông Nguyễn Quang Minh mới dời cư về Giáp Đông, châu Trà Nhiêu [1].

Ghi chép của Nguyễn Tường Phổ miêu tả ông thuở nhỏ chăm học, biết rộng hiểu sâu, tính tình “thẳng thắn mà ôn hòa, nhanh nhẹn mà hiếu học, văn hạnh đã cao, hoài bão cũng lớn” [1]. Tên gọi của ông xuất hiện khác nhau tùy tài liệu [1]. Sách “Quốc triều Hương khoa lục” và mộc bản triều Nguyễn ghi nhận tại khoa thi Hương năm Kỷ Mão (1819) trường Trực Lệ, người đỗ Cử nhân thứ 3 trong số 17 người là “Nguyễn Văn Thành”, người Giáp Đông bãi Trà Nhiêu thuộc Hoa Châu [1]. Khoa này ở Quảng Nam còn có Nguyễn Xuân Hải ở xã Hải Châu Chánh, huyện Hòa Vang, Nguyễn Văn Điển ở xã Thanh Hà, huyện Diên Phước và Doãn Văn Xuân ở xã Quảng Phú, huyện Lễ Dương [1].

Trong khi đó, bộ sách “Đại Nam thực lục” không chép tên Nguyễn Hữu Nhượng mà ghi tên Nguyễn Văn Nhượng với hành trạng tương tự [1]. Sách “Đại Nam nhất thống chí” lại chép tên Nguyễn Hữu Nhượng [1]. Nguồn tư liệu ghi rõ hiện chưa xác định được thời gian và lý do ông đổi tên [1].

Quan lộ và hoạt động giáo dục

Sau khi đỗ Cử nhân năm 1819, vì cha mẹ già yếu nên ông ở lại quê nhà mở lớp dạy học để phụng dưỡng, không tham dự các khoa thi Hội năm Nhâm Ngọ và Bính Tuất [1]. Đến năm 1829 (Minh Mạng thứ 10), nghe tiếng học vấn của ông, vua Minh Mạng đặc chỉ gọi vào kinh phúc hạch rồi bổ nhiệm chức Biên tu Viện Hàn lâm [1]. Năm 1831, ông thăng Tu soạn Viện Hàn lâm; năm 1834 thăng thự Tri phủ Tư Nghĩa, sau đó chuyển sang chức Thị giảng Viện Hàn lâm (từ thời điểm này Đại Nam thực lục bắt đầu chép tên Nguyễn Văn Nhượng) [1].

Tháng 10 năm 1834, khi Tư nghiệp Quốc Tử giám Đoàn Bá Trinh bị cách chức, ông được giao quyền Tư nghiệp, đến tháng 5 năm 1836 thì nhận thực chức Tư nghiệp Quốc Tử giám [1]. Đến tháng 11 năm 1836, ông chuyển chức Thiếu Khanh Quang Lộc Tự và được cử làm Ất Phó sứ trong đoàn sứ bộ sang nhà Thanh (Trung Quốc), cùng Chánh sứ Phạm Thế Trung và Giáp Phó sứ Nguyễn Đức Hoạt [1]. Khi hoàn thành chuyến đi sứ trở về nước, ông tiếp tục giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử giám, đến tháng 8 năm 1839 được thăng quyền Tế tửu [1].

Năm 1840 (Minh Mạng thứ 21), triều đình cử ông làm Phó Chủ khảo trường thi Hương Gia Định, phối hợp cùng Chủ khảo Phạm Sỹ Ái [1]. Khi đoàn tới trường thi Gia Định, triều đình bổ nhiệm ông giữ thực chức Tế tửu Quốc Tử giám [1]. Tuy nhiên, ông lâm bệnh nặng và mất ngay tại trường thi Gia Định [1]. Vua Minh Mạng ban thưởng 80 quan tiền cùng 3 tấm lụa, lệnh cho quan địa phương điều thuyền đưa linh cữu về an táng tại xứ Hà Lăng, làng Trà Nhiêu [1].

Theo nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ vào năm 1847, ông phụ trách công việc giáo dục tại Quốc Tử giám khoảng 6 năm, phương pháp sư phạm lấy khoan hòa làm gốc bên trong nhưng bên ngoài luôn giữ kỷ cương nghiêm cẩn, nhờ đó học trò rèn luyện đỗ đạt nhiều khoa bảng và đảm nhiệm quan chức triều đình [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm sinh chính xác của ông; nguồn bài báo chỉ ghi năm đỗ Cử nhân 1819 và năm mất 1840 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Nguyên nhân cụ thể và thời điểm đổi tên từ Nguyễn Văn Thành sang Nguyễn Văn Nhượng và Nguyễn Hữu Nhượng [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Hiện trạng bảo tồn của khu mộ tại cánh đồng Hà Lăng sau đợt khảo sát năm 2014 [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Tế tửu Quốc Tử giám – Tĩnh Trai Nguyễn Hữu Nhượng”, 26/09/2021, https://baodanang.vn/te-tuu-quoc-tu-giam-tinh-trai-nguyen-huu-nhuong-3065660.html, truy cập 24/10/2026.