Địa danh

Địa chất Ngũ Hành Sơn: từ đảo đá vôi đến núi cẩm thạch

Các ngọn núi Ngũ Hành Sơn nổi lên giữa vùng ven biển
Các ngọn núi Ngũ Hành Sơn nổi lên giữa vùng ven biển. Ảnh minh hoạ: Kuroczynski, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Cụm thắng cảnh Ngũ Hành Sơn (trước 7/2025: quận Ngũ Hành Sơn), nay thuộc phường Ngũ Hành Sơn, có lịch sử địa chất gắn với sự thay đổi của mực nước biển [1]. Theo bài báo của tác giả Hồ Xuân Tịnh trên Báo Đà Nẵng, cụm núi gồm 6 ngọn núi đá vôi nhô lên giữa dải cát đồng bằng ven biển, gắn liền với tiến trình biển tiến – biển thoái thời Holocen [1]. Nơi đây mang đặc điểm cấu tạo đá cẩm thạch khác biệt so với vùng đá granit xung quanh [1].

Nguồn gốc từ đảo ven bờ thời Holocen

Theo các nghiên cứu về tiến hóa địa chất được dẫn trong bài báo, khu vực Ngũ Hành Sơn có nguồn gốc ban đầu từ những hòn đảo đá vôi nằm ven bờ biển [1]. Quá trình hình thành này diễn ra trong các đợt biển tiến – biển thoái vào thời kỳ Holocen, cách ngày nay khoảng 5.000 – 6.000 năm [1]. Khi mực nước biển rút dần xuống, các đảo đá vôi này được nối liền vào đất liền đồng bằng cát, tạo nên cụm núi như ngày nay [1].

Về vị trí địa mạo, cụm núi nằm trong cấu trúc chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng ven biển [1]. Sự hiện diện của các khối núi đá vôi giữa dải cát phẳng, đặt trong mối liên hệ trực tiếp với dòng sông Cổ Cò và vùng Biển Đông, phản ánh mối tương tác giữa vận động kiến tạo địa chất, sự thay đổi của đường bờ biển và không gian cư trú của cư dân địa phương [1].

Cấu tạo đá cẩm thạch và sự hình thành hang động

Bài báo ghi nhận một điểm khác biệt về thành phần thạch học: trong khi phần lớn khu vực phía nam dãy Hải Vân – Bạch Mã chủ yếu cấu tạo từ đá granit, Ngũ Hành Sơn lại là cụm núi đá vôi đã trải qua quá trình biến chất để trở thành đá cẩm thạch [1].

Dưới tác động của nhiệt độ và áp suất cao, các tinh thể canxit trong đá vôi bị tái kết tinh [1]. Quá trình biến chất này tạo ra cấu trúc đá rắn chắc cùng những đường vân đa dạng [1]. Cùng với thời gian, tác động bào mòn của nước, gió và quá trình phong hóa tự nhiên đã tạo ra hệ thống hang động và các hình thái địa hình tự nhiên, trong đó có ngọn Thủy Sơn [1].

Trầm tích văn hóa qua các thời kỳ

Song song với quá trình kiến tạo địa chất, không gian quanh cụm núi ghi nhận sự hiện diện của con người từ thời tiền sử [1]. Tại di chỉ Vườn Đình Khuê Bắc, các cuộc khai quật khảo cổ học đã phát hiện dấu tích của cư dân thuộc văn hóa Sa Huỳnh có niên đại khoảng 3.000 – 3.500 năm trước [1]. Các tầng văn hóa này phản ánh sự tiếp nối cư trú liên tục từ giai đoạn Tiền Sa Huỳnh qua thời kỳ Champa cho đến thời Đại Việt [1].

Bên trong các hang động, đặc biệt ở ngọn Thủy Sơn, còn lưu giữ các dấu tích văn hóa tôn giáo qua nhiều giai đoạn [1]. Tại động Tàng Chơn, bệ thờ Bồ tát Kim Cang Thủ (Vajrapani) mang phong cách Đồng Dương đã được phát hiện, phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật Champa và Phật giáo Mật tông [1]. Đến thế kỷ XVII, nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo lớn của Đàng Trong [1]. Năm 1825, dưới triều vua Minh Mạng, chùa Tam Thai cùng chùa Linh Ứng được xây dựng lại và phong là Quốc tự [1]. Khu vực này còn có nhiều cơ sở tôn giáo khác như chùa Từ Tâm, Tam Tôn, Phổ Đà, Linh Sơn và chùa Quán Thế Âm – nơi hiện lưu giữ hàng trăm hiện vật tại Bảo tàng Văn hóa Phật giáo [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Tác giả bài báo chỉ ghi “theo các nghiên cứu về tiến hóa địa chất” mà không nêu tên công trình nghiên cứu hay tác giả khảo sát cụ thể [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bài báo nêu cụm danh thắng gồm “6 ngọn núi” nhưng không liệt kê tên cụ thể các ngọn núi ngoài Thủy Sơn [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Địa linh đất Quảng”, 25/10/2026, https://baodanang.vn/dia-linh-dat-quang-3356388.html, truy cập 27/10/2026.