Phía sườn đông dãy núi Phước Tường, trên trục đường thiên lý Bắc – Nam xưa, làng Nghi An thuộc địa bàn phường An Khê (trước 7/2025: khu phố Nghi An, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ) được bài viết năm 2021 của Báo Đà Nẵng nhắc đến như một làng có lịch sử 550 năm [1]. Nguồn tư liệu hiện có cho bài viết này ghi nhận quá trình hình thành làng từ tên cũ Tân An, hình ảnh nhà thờ tộc Thái tại làng và các nhân vật họ Trịnh gắn với hoạt động của Thái Phiên, Trần Cao Vân đầu thế kỷ XX, nhưng chưa có phần mô tả kiến trúc đình làng Nghi An [1].
Từ ấp Tân An dưới chân núi Phước Tường đến làng Nghi An
Theo truyền khẩu được Báo Đà Nẵng dẫn lại, làng Nghi An do hai vị tiền hiền Nguyễn Văn Thắng và Trương Văn Dương lập nên; hai ông là chiến binh trong đạo quân Nam chinh của vua Lê Thánh Tông năm 1471, sau chiến thắng được bố trí ở lại khai phá vùng đất thuộc đạo Thừa tuyên Quảng Nam (xem năm 1471 và Thừa tuyên Quảng Nam) [1]. Sách *Lịch sử đấu tranh cách mạng của xã Hòa Phát* (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006) dẫn một số tộc phả cho biết cư dân từ đồng bằng Thanh – Nghệ đã di cư vào vùng này từ sớm: một vị quan lãnh binh theo vua Lê Thánh Tông định cư lập làng Phước Tường, còn các vị quan khác đến khai canh lập ấp ở Đông Phước và Nghi An [1]. Ban đầu làng mang tên Tân An; đến khoảng cuối đời Gia Long, đầu đời Minh Mạng thì Tân An tách thành hai làng Đông Phước và Nghi An [1].
Khi đối chiếu thư tịch cổ, tác giả bài báo cho biết sách *Ô châu cận lục* của Dương Văn An (viết năm 1553) chưa có tên Tân An trong danh sách 66 làng thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong [1]. Đến *Phủ biên tạp lục* của Lê Quý Đôn (viết năm 1776), địa danh Tân An xuất hiện là một trong 24 xã thuộc tổng Hà Khúc, huyện Hòa Vang [1]. Trong *Địa bạ Gia Long* (soạn khoảng 1812 – 1818, dẫn qua công trình *Tìm hiểu Địa bạ triều Nguyễn, Dinh Quảng Nam* của Nguyễn Đình Đầu), Tân An là một trong 26 làng thuộc tổng Phước Tường Thượng [1].
Sang *Đồng Khánh địa dư chí* (soạn khoảng 1887 – 1890) và *Tạp chí B.A.V.H* (năm 1919, thời Khải Định), tên làng Nghi An được ghi nhận thuộc tổng Phước Tường (đổi tên từ tổng Phước Tường Thượng) [1]. Trong hai giai đoạn 1945 – 1954 và 1954 – 1975, phần lớn làng Nghi An thuộc xã Hòa Phát, huyện hoặc quận Hòa Vang [1]. Từ tháng 8/2005, khi lập quận Cẩm Lệ, Nghi An trở thành khối phố thuộc phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ [1]; từ ngày 1/7/2025, phường Hòa Phát hợp nhất vào phường An Khê.
Dấu tích tộc họ và những người họ Trịnh gắn với Thái Phiên
Bài viết trên Báo Đà Nẵng đăng kèm ảnh nhà thờ tộc Thái tại làng Nghi An, đồng thời dẫn sách *Chí sĩ yêu nước Thái Phiên qua các tư liệu mới* (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2017) của nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn để giới thiệu ba nhân vật họ Trịnh ở làng từng hỗ trợ chí sĩ Thái Phiên trong phong trào Duy Tân và cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916 [1].
Người thứ nhất là ông Trịnh Thiện Giáo (tên trong gia phả là Trịnh Viết Phụng), bố vợ Thái Phiên [1]. Ông làm nghề nông, có nhiều ruộng rẫy, trồng thuốc lá Cẩm Lệ và kiêm việc thu mua, chế biến đưa đi bán, nhất là ra Huế [1]. Nhờ làm từ thiện và có uy tín ở địa phương, ông từng được chính phủ Pháp (theo đề nghị của Khâm sứ Trung Kỳ) tặng mề đay cùng bằng chứng nhận [1]. Dựa vào vị thế đó, ông xin phép mở một trường tư cho làng, nuôi giấu cán bộ và đóng góp tài chính cho tổ chức của con rể [1]. Qua việc buôn thuốc lá ra Huế, ông Giáo kết giao với Đoàn Bổng – thơ lại của Bộ Hộ ở đường Đông Ba – rồi dẫn dắt để Trần Cao Vân và Thái Phiên kết nạp người này; tháng 9/1915, Đại hội lần thứ nhất của Việt Nam Quang phục hội được tổ chức tại nhà Đoàn Bổng [1]. Sau khi vợ đầu của Thái Phiên mất, ông Giáo cũng là người đứng ra cưới bà Trần Thị Băng (con gái ông Học Băng ở làng Quang Châu) cho Thái Phiên nhằm vận động kinh tài cho tổ chức [1].
Người thứ hai là bà Trịnh Thị Nhuận, con gái lớn của ông Trịnh Thiện Giáo và là vợ đầu của Thái Phiên [1]. Bà sinh năm 1881, thường đi buôn chuyến để gây dựng kinh tài cho Duy Tân hội, có những chuyến đưa bạc về phải thuê hai ba người gánh [1]. Vợ chồng bà có một con gái là Thái Thị Tuyết; ngày 6/4/1908, bà Nhuận đột ngột qua đời ở tuổi 27 khi con gái mới 4 – 5 tuổi [1]. Thái Phiên chôn cất vợ tại vườn Sửu – khu vườn do ông Trịnh Thiện Giáo cho con rể, được sách của Nguyễn Trương Đàn ghi nằm ở phía tây nam sân bay Đà Nẵng [1].
Người thứ ba là ông Trịnh Mai, còn gọi là Thông Viên do làm thông ngôn cho một hãng buôn tại Đà Nẵng, thuộc chi ba tộc Thái [1]. Ông từng tham gia phong trào Đông Du sang Nhật Bản du học trước khi bị trục xuất về nước [1]. Trong cuộc khởi nghĩa năm 1916, Trịnh Mai được Thái Phiên cử sang Hương Cảng liên lạc với Phan Bội Châu để nhờ Trần Hữu Lực mua vũ khí gửi về và cầu viện phía Xiêm [1].
Tra cứu liên quan
- Địa bàn và cảnh quan: phường An Khê, núi Phước Tường, phường Cẩm Lệ.
- Lịch sử và nhân vật: Thái Phiên, Trần Cao Vân, năm 1471 và Thừa tuyên Quảng Nam, tên gọi Hòa Vang.
- Hành chính: bảng tra phường xã Đà Nẵng, quận, huyện cũ nay thuộc phường, xã nào.
Điều còn chưa rõ
- Nguồn hiện có trong hồ sơ bài viết chỉ khảo cứu lịch sử làng Nghi An, các nhân vật họ Trịnh và đăng ảnh nhà thờ tộc Thái; chưa có thông tin về kiến trúc, năm xây dựng, đối tượng thờ tự và hồ sơ xếp hạng của đình làng Nghi An cũng như các di tích khác trong cụm [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Mốc năm lập ấp Tân An (truyền khẩu gắn với năm 1471, trong khi *Ô châu cận lục* năm 1553 chưa ghi nhận và *Phủ biên tạp lục* năm 1776 mới có tên Tân An) chưa xác định được chính xác [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí hiện trạng của khu mộ bà Trịnh Thị Nhuận tại vườn Sửu (phía tây nam sân bay Đà Nẵng theo sách xuất bản năm 2017) và địa chỉ cụ thể của nhà thờ tộc Thái chưa được mô tả chi tiết trong nguồn [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Những người họ Trịnh ở làng Nghi An”, 27/6/2021, https://baodanang.vn/nhung-nguoi-ho-trinh-o-lang-nghi-an-3068071.html, truy cập 23/10/2026.