Con người

Đỗ Thúc Tịnh

Hòa Vang chỉ có một tiến sĩ duy nhất trong lịch sử triều Nguyễn – đó là Đỗ Thúc Tịnh, người mà *Đồng Khánh dư địa chí* của Quốc sử quán cũng nhắc đến khi chép về vùng đất “đất xấu, dân nghèo” nhưng vẫn sản sinh người tài [1]. Khi ông mất, vua Tự Đức than: “Người tôi trung và mẫn cán chẳng may bị đoản mệnh, chẳng biết sự cơ rồi sẽ như thế nào?” [1].

Tiến sĩ khai khoa của Hòa Vang

Đỗ Thúc Tịnh sinh năm 1818 trong một gia đình có truyền thống khoa cử tại xã La Châu, huyện Hòa Vang [1]. Cha ông là Đỗ Như Tùng – “tú tài khai khoa (đỗ đầu tiên) của huyện Hòa Vang” và được triều đình bổ làm tri huyện An Định [1]. Mồ côi cha từ sớm, ông được mẹ là bà Đinh Thị Thoại nuôi dưỡng và dạy dỗ. Gia phả tộc Đỗ kể bà “tiếc vô cùng” mỗi khi thấy giấy chữ Nho bỏ rơi, và “thường đem việc trung hiếu, kinh sử dạy dỗ các con” [1].

Nhờ thông minh hơn người và tinh thần hiếu học, ông đỗ tiến sĩ năm 1847 – trở thành “tiến sĩ khai khoa của Hòa Vang” [1]. Bạn tri kỷ của ông là quan lớn gốc Quảng là Phạm Phú Thứ cũng chép trong *Giá viên toàn tập*: “Thúc Tịnh họ Đỗ, người cùng tỉnh (với ta). Ông người huyện Hòa Vang. Năm Đinh Mùi triều Thiệu Trị (1847) thi đỗ đồng tiến sĩ” [1].

Hành trình đỗ đạt không suôn sẻ. Gia phả tộc Đỗ chép rằng khi Đỗ Thúc Tịnh lớn lên, hào lý địa phương gây khó cho gia đình “ngụ cư”, định truất tên trong bộ đinh của làng. Mãi đến năm 1841 – 1842, nhờ tiến sĩ Lê Thiện Trị (người Duy Xuyên) lên tiếng với Tỉnh đường Quảng Nam, anh em nhà Đỗ Thúc Tịnh mới được ghi vào bộ đinh [1].

Làm quan và xây Văn chỉ

Năm Tự Đức thứ 3 (1850), Đỗ Thúc Tịnh được bổ làm tri phủ huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa [1]. Được một thời gian ngắn, ông xin về vì mẹ đau nặng.

Trong 3 năm để tang mẹ tại quê nhà, ông khởi xướng việc xây dựng Văn chỉ Hòa Vang [1]. Công việc hoàn thành cuối mùa xuân năm Nhâm Tý, Tự Đức thứ 5 (1852), và chính Đỗ Thúc Tịnh là người chấp bút bài văn bia dựng trước Văn chỉ [1]. Văn bia dựng lại năm Khải Định thứ 4 (1919) ghi rõ công lao của ông: “Năm Tự Đức thứ năm, ngài Tuần phủ người xã La Châu là Đỗ Tiên Công là người đề xướng tạo dựng đền thờ” [1]. Sau này, khi làm quan tại Khánh Hòa, ông cũng chủ trì xây Văn chỉ Diên Khánh, hiện còn khá nguyên vẹn tại Nha Trang [1].

Tinh thần hiếu học của ông ảnh hưởng đến gia tộc: con trai út là Đỗ Bùi Trị và con trai thứ là Đỗ Thúc Đảnh đều được phong danh hiệu ấm sinh vào hậu bổ của tỉnh [1].

Mất tại quân thứ khi chống Pháp

Đỗ Thúc Tịnh mất tại quân thứ khi đang chỉ đạo đánh Pháp tại Nam Kỳ [1]. Nghe tin, vua Tự Đức đau buồn và than: “Người tôi trung và mẫn cán chẳng may bị đoản mệnh, chẳng biết sự cơ rồi sẽ như thế nào? Vả lại, khi con người mà bị mất cả ‘chân tay’ thì đâu có khả năng làm được lớn!” [1].

Năm 2008, mộ ông được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm mất của Đỗ Thúc Tịnh: nguồn không ghi cụ thể năm nào, chỉ nói ông mất “tại quân thứ khi đang chỉ đạo đánh Pháp tại Nam Kỳ” [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Chức vụ cuối cùng của ông tại Khánh Hòa (nguồn chỉ nhắc “khi làm quan tại Khánh Hòa”) [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Vị trí mộ và Văn chỉ Hòa Vang hiện nay thuộc địa chỉ cụ thể nào trong xã Hòa Tiến [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, Lưu Anh Rô, “Đỗ Thúc Tịnh – một trí thức Quảng Nam tiêu biểu”, 11/2/2018, https://baodanang.vn/do-thuc-tinh-mot-tri-thuc-quang-nam-tieu-bieu-3034947.html, truy cập 23/10/2026.