Con người

Hoàng Dư Khương

Hoàng Dư Khương là cán bộ tham gia phong trào công nhân và chỉ đạo cách mạng tại Nam Bộ từ giai đoạn trước năm 1945 [1]. Ông từng trải qua nhiều năm bị giam cầm tại nhà tù Côn Đảo và bị bại liệt hai chân trước khi được giải thoát về căn cứ [1]. Tại Đà Nẵng, tên của ông được đặt cho một tuyến đường và một trường tiểu học [1].

Xuất thân và giai đoạn đầu hoạt động

Hoàng Dư Khương có tên khai sinh là Hoàng Xang, sinh ngày 2/2/1911 tại làng Bình Thái, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang trước đây (khu vực này trước tháng 7/2025 thuộc quận Cẩm Lệ, nay thuộc địa bàn phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng) [1]. Sau khi thi đỗ bằng thành chung, ông tiếp tục thi đỗ và theo học tại trường Bá công Huế trong khoảng thời gian từ năm 1933 đến năm 1935 [1].

Năm 1936, ông bước vào hoạt động chính trị khi tham gia phong trào Đông Dương đại hội [1]. Đến năm 1937, ông chuyển vào Sài Gòn, bắt đầu gắn bó với đời sống công nhân và tham gia xây dựng phong trào trong giới công nhân cao su tại đồn điền Dầu Tiếng [1]. Sau thời gian này, ông chuyển sang làm công nhân hỏa xa tại Tháp Chàm (nguồn ghi thuộc tỉnh Bình Thuận) [1]. Đến năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó tiếp tục công tác tuyên truyền và gây dựng cơ sở trong giới công nhân cùng các tầng lớp lao động tại khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn [1].

Tham gia lãnh đạo phong trào tại Nam Bộ

Vào tháng 8/1945, ông tham gia trong lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn [1]. Sau cuộc khởi nghĩa, ông được bầu vào Xứ ủy lâm thời Nam Bộ và được phân công trực tiếp phụ trách Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ [1].

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tiếp tục đảm nhận nhiều nhiệm vụ lãnh đạo tại các chiến trường miền Nam [1]. Trong những năm 1948 – 1949, ông đảm nhiệm trọng trách Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, sau đó được điều động làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu IX [1]. Đến năm 1950, ông được tổ chức phân công làm Phó Bí thư Liên khu miền Đông Nam Bộ, tiếp tục công tác lãnh đạo tại địa bàn này cho tới thời điểm đình chiến vào tháng 7/1954 [1]. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết vào năm 1954, ông được tổ chức phân công ở lại địa bàn miền Nam, giữ cương vị Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ [1].

Tù đày tại Côn Đảo và những năm cuối đời

Vào năm 1957, phong trào nội thành bị đối phương tổ chức càn quét và đánh phá quyết liệt, khiến nhiều cơ sở cách mạng bị lộ và tan vỡ [1]. Trong đợt khủng bố này, nhiều cán bộ bị bắt giữ, trong đó có Hoàng Dư Khương [1]. Khi xác định được ông là cán bộ lãnh đạo cao cấp của phong trào miền Nam, đối phương tìm nhiều cách mua chuộc, mời ông hợp tác nhưng đều bị ông cự tuyệt [1]. Sau khi không đạt được mục đích, họ chuyển sang sử dụng nhiều hình thức tra tấn khắc nghiệt nhằm khuất phục nhưng không thể bẻ gãy ý chí kiên định của ông [1].

Sau đó, ông bị đày ra nhà tù Côn Đảo [1]. Tại nhà lao, ông cùng những người tù khác tổ chức đấu tranh chống lại các chủ trương bắt tù nhân “ly khai” do giám thị nhà tù đưa ra [1]. Trong thời gian bị đày ải, ông bị biệt giam trong khu Chuồng Cọp suốt nhiều năm ròng, chịu cảnh đói khát và hành hạ, dẫn đến tình trạng hai chân bị bại liệt hoàn toàn và mất khả năng tự đi lại [1].

Đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, các tù chính trị tại Côn Đảo đồng loạt nổi dậy đấu tranh đòi trao trả tự do [1]. Nhằm che giấu chính sách giam cầm khắc nghiệt, chính quyền miền Nam khi đó không đưa những người tù già yếu, bệnh tật hoặc tàn phế đến sân bay Lộc Ninh theo đúng thủ tục trao trả chính thức đã ký [1]. Họ chọn một số tù nhân trong diện này đưa về đất liền để thực hiện việc phóng thích ngoài hiệp định, trong đó có Hoàng Dư Khương [1]. Ông bị đưa về sân bay Biên Hòa, rồi chuyển sang nhà giam Bình Dương để phát thông báo cho thân nhân đến nhận [1].

Nhận được tin tức, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định lập tức tổ chức cho cơ sở bí mật tiếp cận, tìm cách đưa ông trốn thoát an toàn về vùng căn cứ cách mạng [1]. Khi trở về căn cứ, hai chân của ông đã hoàn toàn bất động và thể lực suy kiệt nặng nề [1]. Sau đó, Đảng và Nhà nước tổ chức chuyển ông ra Hà Nội để điều trị nội trú, nhưng do di chứng nặng nề của thời gian tù ngục nên sức khỏe không thể phục hồi [1]. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục được điều trị tại miền Nam [1]. Ngày 13/12/1983, ông qua đời tại Bệnh viện Thống Nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh [1].

Để ghi nhận những đóng góp cho phong trào cách mạng, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định trao tặng ông Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng Huân chương Hồ Chí Minh [1]. Nhằm ghi nhớ công lao của người con quê hương, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên ông cho một con đường rộng 7,5 m và một trường tiểu học tại khu vực quận Cẩm Lệ cũ [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố ghi ga Tháp Chàm thuộc tỉnh Bình Thuận, trong khi trên thực tế ga Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận cũ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thời điểm chính xác ông bị đày ra nhà tù Côn Đảo và tổng thời gian bị giam giữ tại khu Chuồng Cọp; nguồn chỉ ghi “nhiều năm” [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm chính quyền thành phố Đà Nẵng ban hành quyết định đặt tên đường và trường học mang tên ông [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Vị trí cụ thể của con đường Hoàng Dư Khương trên địa bàn thành phố hiện nay; nguồn chỉ ghi rộng 7,5 m tại quận Cẩm Lệ cũ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Hoàng Dư Khương (1911 – 1983)”, 14/03/2012, https://danang.gov.vn/en/web/dng/-/hoang-du-khuong-1911-1983-i, truy cập 23/10/2026.