Làng Quảng Lăng (trước 7/2025: xã Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn), nay thuộc phường Điện Bàn Đông [1]. Ngôi làng lưu giữ một công trình biên soạn sử làng do chính người dân địa phương chung tay thực hiện từ nguồn gia phả họ tộc [1]. Công trình này giúp làm rõ quá trình quy dân lập ấp của các tộc họ tiền hiền trên vùng đất cát gò xứ Quảng [1].
Bốn người dân biên soạn sử làng
Theo Báo Quảng Nam, cuốn sử làng Quảng Lăng do bốn người tự nhận là người viết không chuyên đứng ra biên soạn trong nhiều năm, gồm các ông Võ Đạt, Đặng Hữu Lý, Võ Như Tống và Đặng Hữu Duyên [1]. Công việc biên soạn này được thực hiện tại xã Điện Nam Trung từ thời điểm gần 15 năm trước [1]. Nhóm biên soạn đã dẫn lại câu nói của cố nhà văn Nguyễn Văn Xuân rằng viết sử một làng cần trọn một đời người để tìm lại quá khứ của ngôi làng [1].
Trước công trình này, các nghiên cứu của Phan Khoang và Li Tana về quá trình lập làng xã phía bắc Quảng Nam chỉ ra rằng giữa hai thời điểm của Ô Châu cận lục (Dương Văn An) và Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), vùng Điện Bàn ngoài 66 tên làng còn có 7 giáp và 2 trại [1]. Theo bài báo, trước năm 1776 Quảng Lăng chưa có tên làng [1]. Đến khi Lê Quý Đôn soạn Phủ biên tạp lục, Quảng Lăng mới lần đầu được ghi nhận là một làng cùng với Cổ Lưu, An Lưu thuộc huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa [1]. Để tìm hiểu thời điểm hình thành làng trong khoảng thời gian từ năm 1555 đến 1776, nhóm tác giả đã đối chiếu gia phả dòng họ với tài liệu Quảng Nam xã chí lập năm 1944 [1].
Manh mối từ gia phả các tộc tiền hiền
Quá trình xác minh gốc gác làng Quảng Lăng bắt đầu từ các bản gia phả tiền hiền lưu truyền trong họ tộc [1]. Bản gia phả tộc Võ do cụ cử Võ Úy lưu giữ cùng ghi chép từ Quảng Nam xã chí chép rằng thủy tổ là tiền hiền bổn xã Võ Như Oanh vào lập làng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Trăn (Hiếu Nghĩa Đế), tương ứng năm dương lịch 1667 [1].
Trong khi đó, gia phả tộc Đặng Hữu lại ghi tiền hiền Đặng Hữu Chiếu (hiệu Quang Minh), quê quán tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, đi vào Nam lập nghiệp dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần và lập điền trang doanh trại Quảng Lãng vào năm 1665 [1]. Căn cứ theo hai bộ gia phả này, làng Quảng Lăng ghi nhận hai mốc thời gian khai khẩn khác nhau là năm 1665 và năm 1667 [1]. Cùng với hai tộc Võ và Đặng Hữu, làng có tổng cộng 16 tộc họ đầu tiên cùng đến vùng đất mới khai hoang và sinh cơ lập nghiệp, tạo tiền đề cho nghi thức giỗ tiền hiền xứ Quảng được duy trì qua các đời [1].
Địa hình gò đồi và ký ức sản xuất
Tư liệu trong sử làng Quảng Lăng còn phản ánh đặc điểm tự nhiên, khí hậu, giao thông, dân cư và văn hóa dân gian địa phương [1]. Về mặt địa lý, Quảng Lăng là ngôi làng hình thành trên nền địa hình có nhiều gò đất rộng [1]. Đất gò gắn với những câu ca của một thời nghèo khó, nói chuyện đủ ăn, khỏi nợ nhờ khoai và củ [1].
Tác giả bài báo nhận định, việc chuyển biến từ các điền trang, doanh trại sơ khai của tộc tiền hiền đến khi chính thức được công nhận xã hiệu là quá trình lịch sử phức tạp [1]. Các cứ liệu từ tài liệu Bắc địa tấu từ về sự ra đời của các đơn vị xã hiệu như Nhất Giáp đến Lục Giáp nằm cạnh địa danh Quảng Lăng vẫn đòi hỏi phải tiếp tục đối chiếu thêm tư liệu để làm sáng tỏ các mối liên hệ [1].
Mô hình phả hệ làng tại vùng lân cận
Bài báo cũng liên hệ công việc chép sử làng Quảng Lăng với nghiên cứu phả hệ làng Phong Ngũ (làng Ngũ Giáp xưa) ở xã Điện Thắng Nam cũ, nay thuộc địa bàn phường An Thắng [1]. Tại đây, dựa vào bốn bản Bắc địa tấu từ và gia phả tộc Hà Đức, tộc Võ, nhà nghiên cứu Hà Phụng xác định làng có tên ban đầu là xã Phong Niên, được lập xã hiệu trong giai đoạn 1555 – 1560 dưới thời trấn thủ Bùi Tá Hán, trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ năm 1570 [1].
Nghiên cứu phả hệ làng tại các vùng quê như Phong Ngũ hay Quảng Lăng được nhiều thế hệ người làng tiếp nối sưu tầm [1]. Công việc này giúp ghi lại diễn biến thay đổi địa giới qua các thời kỳ Gia Long, Minh Mạng, bảo tồn tên gọi trường học thời Pháp thuộc và hệ thống tư liệu Hán Nôm của đình làng, chùa làng và âm linh nghĩa tự [1].
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: gia phả các tộc họ xứ Quảng.
- Đơn vị hành chính: phường Điện Bàn Đông, phường Điện Bàn Bắc, phường An Thắng
- Làng xã lân cận: làng Thanh Quýt
- Sự kiện và nghi lễ: chiến thắng đồn Ngũ Giáp 1966, giỗ tiền hiền xứ Quảng
- Tra cứu đơn vị hành chính: bảng tra phường xã Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Niên đại khai lập làng có sự khác biệt giữa hai gia phả: gia phả tộc Đặng Hữu ghi năm 1665 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, trong khi gia phả tộc Võ ghi năm 1667 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Trăn [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh sách và tên gọi cụ thể của 14 tộc họ còn lại trong tổng số 16 tộc họ đầu tiên khai phá làng Quảng Lăng chưa được bài báo thống kê chi tiết [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Gia phả tộc Võ ghi năm 1667 “thời Hiếu Nghĩa Đế tức chúa Nguyễn Phúc Trăn”, nhưng chúa Nguyễn Phúc Trăn thường được ghi cầm quyền từ năm 1687; năm 1665 và 1667 thuộc thời chúa Nguyễn Phúc Tần. Cần đối chiếu bản gia phả gốc [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Mối liên hệ lịch sử giữa địa danh Quảng Lăng và các xã hiệu từ Nhất Giáp đến Lục Giáp ghi trong Bắc địa tấu từ chưa có kết luận thống nhất [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên gọi chính thức và văn bản lưu hành của cuốn sử làng do bốn tác giả biên soạn chưa được bài báo cung cấp cụ thể [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Phả hệ làng, chuyện của đời người…”, 01/01/2025, https://baodanang.vn/pha-he-lang-chuyen-cua-doi-nguoi-3146905.html, truy cập 23/10/2026.