Văn hoá

Lệ cúng đất (cúng tá thổ) ở xứ Quảng

Vào những ngày cuối năm âm lịch, các làng xóm, nhà thờ họ và từng gia đình tại xứ Quảng đều làm mâm cúng đất trong dịp tất niên [1]. Ở vùng đất này, nhiều nơi gọi nghi lễ là cúng tá thổ, mang ý nghĩa tri ân các vị thần cai quản xứ sở cùng những bậc tiền nhân khai khẩn thuở trước [1].

Ý niệm “tá thổ” trong tập tục cúng đất

Theo tác giả Nguyễn Điền Nam, từ “tá thổ” mang nghĩa là “mượn đất” hoặc “thuê đất” [1]. Dù đã trải qua nhiều thế kỷ sinh sống sau các đợt mở đất về phía nam, tâm thế của những thế hệ lưu dân người Việt vẫn xem nơi cư trú là “mượn đất”, “thuê đất” của tiên nhân bản địa để làm ăn lập nghiệp [1]. Tác giả Nguyễn Điền Nam xem đây là một cách ứng xử nhân văn của người Việt với vùng đất mới [1].

Bên cạnh các lễ vật thông thường, mâm cúng đất vọng tiên nhân bản địa thường bày biện các loại nông sản mộc mạc như khoai, đậu và mắm [1].

Các mốc lập làng của người Việt theo nguồn sử liệu

Bài báo của Nguyễn Điền Nam liệt kê ba mốc thời gian gắn với tiến trình người Việt đến lập làng trên đất cũ của Chiêm Thành [1]:

Mốc năm 1306 dưới triều Trần gắn liền với sự kiện công chúa Huyền Trân [1]. Theo các công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, vùng đất bờ bắc sông Thu Bồn thuộc địa giới phủ Điện Bàn cũ sáp nhập vào Đại Việt từ thời điểm này, nghĩa là phần đất phía bắc Quảng Nam đã có người Việt di dân lập làng từ sau sự kiện ấy [1].

Mốc năm 1402 dưới triều nhà Hồ, khi nhà Hồ lấy đất Chiêm Động lập thành châu Thăng, châu Hoa thuộc lộ Thăng Hoa, đồng thời để lại một phần quân đội và di dân từ miền Bắc vào khai phá [1]. Tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh (khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Huế) nhận định đây là thời điểm người Việt “bắt đầu tụ cư” sinh sống, tập trung chủ yếu ở dải đồng bằng ven biển Quảng Nam [1].

Mốc năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông khi triều đình lập ra đạo thừa tuyên Quảng Nam, làng mạc của người Việt tiếp tục được định hình và mở rộng trên vùng đất mới [1].

Đối tượng phụng bái trong bài văn tế

Nội dung bài văn tế cúng tá thổ phản ánh sự hòa nhập giữa các lớp tín ngưỡng và cộng đồng cư dân [1]. Bên cạnh lời thỉnh mời các vị thổ công, thổ hầu, thổ bá, bài tế còn bái thỉnh các vị “thổ Lồi” (tương truyền Lồi là một sắc tộc của người Chăm) [1]. Bài văn cũng mời gọi ma Chăm, ma chợ, ma mọi, ma rợ, lỵ mỵ vong lượng âm hồn, hương hồn cùng thập loại cô hồn về dự lễ [1].

Đồng thời, văn tế cúng đất bái thỉnh từ Chủ Ngung Man nương đến các vị tiên nhân xứ sở [1]. Theo một bài khác trên báo, tục truyền Chủ Ngung Man nương (còn gọi Chủ Ngung đào lương bang) tên là Nguyễn Thị Thúc, được vua cha gả cho người Thượng; khi bà mất, nhà vua sắc phong thần và truyền cho dân chúng hằng năm cúng tế [2]. Cùng với việc tưởng niệm các vị tiên nhân bản địa, người làm lễ dâng lời tạ ơn các vị thủy tổ khai khẩn, khai canh, khai cơ, là tiền hiền và hậu hiền của các dòng họ người Việt đến lập nghiệp [1].

Ghi chép về di dân lập làng trong gia phả và văn bản cổ

Quá trình di dân mở đất từ phương Bắc vào xứ Quảng còn được ghi lại cụ thể qua văn tự dòng họ và tài liệu lịch sử [1]. Chẳng hạn, gia phả họ Phan ở Phong Thử (trước 7/2025: xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn), nay thuộc xã Điện Bàn Tây, được khắc lên bia, chép rằng vào năm Đinh Mùi 1547 (niên hiệu Quang Hòa thứ 15), vị thủy tổ họ Phan đã đưa gia đình từ bến sông Linh Giang vào vùng này mở đất [1]. Theo bản dịch của Phạm Thùy Vinh được bài báo trích dẫn, vị thủy tổ thấy đất đai màu mỡ, có thể trồng trọt, suối có cá và đồng cỏ thuận lợi chăn nuôi nên đã quyết định kiến lập nơi an cư rồi quay về đón người vào cùng cày bừa, sinh sống [1].

Ngoài ra, bài báo dẫn phát hiện của Viện Sử học về văn bản “Bắc địa tấu từ” viết vào tháng 5/1492 dưới triều Hồng Đức [1]. Văn bản này xác nhận việc 24 người thuộc 24 dòng họ từ các địa phương phía bắc như Cao Bằng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hải Dương vào khai phá dải đất phía bắc sông Cái (tức sông Thu Bồn), báo cáo về triều đình số lượng ruộng đất đã vỡ hoang cũng như số thôn giáp và làng mạc (xã hiệu) được thành lập [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Danh sách đầy đủ 24 dòng họ được nhắc tới trong văn bản “Bắc địa tấu từ” năm 1492 chưa được bài báo liệt kê toàn bộ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Sự tích Chủ Ngung Man nương mới được ghi theo lời tục truyền; chưa đối chiếu được với sử liệu [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Nghĩ về lệ cúng đất”, 31/01/2021, https://baodanang.vn/nghi-ve-le-cung-dat-3040803.html, truy cập 24/10/2026.
  2. Báo Quảng Nam, “Tá thổ”, 09/02/2015, https://baodanang.vn/ta-tho-3041539.html, truy cập 24/10/2026.