Văn hoá

Tục chạp mả ở xứ Quảng

Ở xứ Quảng, chạp mả là dịp các thế hệ con cháu tề tựu để viếng thăm, tu sửa mồ mả tổ tiên và cúng bái dòng tộc [1]. Thay vì vào tiết Thanh minh tháng 3 âm lịch, hoạt động này tại vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng chủ yếu diễn ra vào dịp cuối năm âm lịch [1]. Đây vừa là nghi lễ gia tộc vừa là dịp gắn kết con cháu họ hàng quanh nhà thờ và các khu mộ tiền nhân [1].

Phân biệt chạp mả và tiết Thanh minh

Bài báo dẫn sách “Phong tục Việt Nam” của Phan Kế Bính cho biết học giả này chỉ ghi nhận ngày Tết Thanh minh vào tháng 3 âm lịch theo tục Trung Hoa, gắn với hội đạp thanh [1]. Phan Kế Bính mô tả việc đi tảo mộ là thăm viếng mộ tiền nhân, phát quang cỏ rậm, bồi đắp đất khuyết rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên [1]. Tác giả bài báo chỉ ra hoạt động này tương ứng với tục chạp mả tại vùng đất Quảng Nam và Đàng Trong [1]. Ngoài ra, Phan Kế Bính cũng nhắc đến việc các tộc họ đi đắp mả tổ và làm lễ hợp kỵ vào tháng Chạp để hợp tế tổ tông [1]. Tác giả lưu ý sách của Phan Kế Bính không dùng khái niệm “chạp mả” như người Quảng [1].

Thời điểm tổ chức trong năm

Về thời gian, tác giả cho biết một số địa phương ở xứ Quảng vẫn chạp mả vào tháng 3 âm lịch, nhưng đại đa số tộc họ tổ chức từ tháng 10 âm lịch cho đến những ngày cận Tết Nguyên đán [1]. Tại khu vực Điện Bàn (trước 7/2025: thị xã Điện Bàn), các họ tộc thường chọn ngày Đông chí để tiến hành chạp mả tộc [1]. Tác giả bài báo nhận định khoảng thời gian cuối năm này phù hợp với giai đoạn nông nhàn trước khi bước vào vụ canh tác đông xuân, đồng thời xuất phát từ quan niệm chuẩn bị đón năm mới cho cả tiền nhân lẫn người sống [1].

Tổ chức trong tộc họ và các hoạt động

Theo bài báo dẫn các nhà nghiên cứu phong thủy, tục tảo mộ cuối năm mang tính chất dòng tộc sâu sắc [1]. Các dòng họ lớn thường ghi cụ thể ngày chạp mả vào gia phả xứ Quảng như một truyền thống lưu truyền cho con cháu [1]. Một số nơi quy định trong các tộc ước hoặc hương ước xứ Quảng về thứ tự chạp mả: họ tộc tổ chức chạp mả tộc trước, sau đó mới tới chạp mả ở từng chi phái và gia đình nhỏ để giữ sự tôn kính trên dưới [1]. Nghi thức này gắn liền với các lễ tục phụng thờ tổ tiên tương tự như lễ giỗ tiền hiền xứ Quảng hay việc tưởng nhớ các bậc tiền hiền khai canh xứ Quảng [1].

Hoạt động thực địa ở khu mộ được người địa phương gọi là “giẫy mả”, bao gồm việc sửa sang, dọn sạch cỏ lau, đắp thêm đất vào các nấm mồ và thắp hương cho tổ tiên [1]. Trước ngày lễ, các gia đình thường quây quần gói bánh và chuẩn bị lễ vật cúng tế [1]. Sau phần lễ cúng tại nhà thờ tộc, con cháu cùng nhau ăn uống ở phần hội [1]. Những chi phái đông người phải dựng thêm rạp, thuê bàn ghế, mổ bò hoặc mổ heo để làm cỗ [1]. Bữa tiệc chạp mả cũng là dịp để mọi người giới thiệu họ tên, học vấn, nghề nghiệp của con cháu nội ngoại nhằm nhận biết quan hệ họ hàng [1]. Tác giả bài báo kể lại trường hợp tại một làng, nhờ ngày chạp mả mà các bô lão phát hiện một đôi nam nữ yêu nhau có quan hệ cận huyết thống nên kịp thời can ngăn việc kết hôn [1].

Tại Thăng Bình (trước 7/2025: huyện Thăng Bình), tác giả từng dự ngày hợp kỵ của một tộc họ có sự ra mắt của “câu lạc bộ các nàng dâu”, đồng thời tổ chức phát học bổng và biểu diễn văn nghệ [1]. Nhiều tộc họ cũng tận dụng ngày họp mặt cuối năm để lập kế hoạch khuyến học, tu bổ mồ mả và sửa chữa từ đường cho năm sau [1].

Biến đổi qua thời gian và những lưu ý

Trong thời kỳ chiến tranh, các gia đình phân tán lánh nạn, trưởng nam khi rời làng thường mang theo gia phả cùng lư hương, chân đèn bằng đồng ra lập bàn thờ tạm ở nơi mới [1]. Ở làng quê chỉ còn lại vài hộ bám trụ, đa số là người lớn tuổi [1]. Khi ấy việc giẫy mả chỉ làm qua quýt, người ở lại vừa phải dọn mả nhà mình vừa phải thăm viếng, hương khói cho mồ mả bên nhà vợ [1]. Sau ngày hòa bình và thời kỳ Đổi mới, các nhà thờ họ và khu mộ được tôn tạo khang trang hơn, con cháu đi làm ăn xa trở về làng dự lễ đông đủ hơn [1].

Bên cạnh nét đẹp gắn kết họ hàng, tác giả bài báo cũng nêu lên một số vấn đề phát sinh trong thực tế [1]. Mức đóng góp tài chính cần được tính toán phù hợp để các hộ nông dân tại làng không bị quá sức hoặc mặc cảm [1]. Tác giả cũng chỉ ra tình trạng lãng phí do đốt quá nhiều vàng mã, giấy tiền vàng bạc, kể cả tiền đô la giấy, cũng như việc ăn uống no say dẫn đến cãi vã, làm mất tình đoàn kết dòng tộc [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Danh sách các địa phương cụ thể tại xứ Quảng vẫn duy trì tục chạp mả vào tháng 3 âm lịch thay vì dịp cuối năm [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại xuất hiện sớm nhất của thuật ngữ “chạp mả” trong các văn bản chữ Hán Nôm và hương ước cổ tại Quảng Nam [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Mức độ phổ biến của việc thành lập các hội nhóm như “câu lạc bộ các nàng dâu” tại các tộc họ khác ngoài huyện Thăng Bình cũ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Về làng chạp mả”, 19/11/2016, https://baodanang.vn/ve-lang-chap-ma-3100885.html, truy cập 24/10/2026.