Con người

Mạc Cảnh Huống

Mạc Cảnh Huống xuất thân từ hoàng tộc nhà Mạc nhưng trở thành một vị tướng phò tá các chúa Nguyễn thời kỳ đầu mở rộng cương vực [1]. Sau nhiều thập niên phụ trách việc quân sự, ông từ quan chọn làng Trà Kiệu để tu hành và định cư [1][2]. Lăng mộ của ông hiện nằm tại thôn Trà Châu cũ, nay thuộc xã Duy Xuyên, thành phố Đà Nẵng [2].

Thân thế và mốc thời gian theo chúa Nguyễn

Theo tài liệu Châu bản triều Nguyễn và gia phả dòng họ, Mạc Cảnh Huống sinh năm 1542, mất năm 1677, tên húy là Lịch [1][2]. Ông là con út của Thái tông Mạc Đăng Doanh và thứ phi Đậu Thị Giang, quê gốc tại làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) [1][2]. Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên ghi nhận ông là em Khiêm vương Mạc Kính Điển và là chú ruột của Hiếu Văn hoàng hậu (vương phi của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) [1]. Báo Đà Nẵng dẫn tư liệu cho biết năm 1564 ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Ngọc Dương, em ruột phu nhân chúa Nguyễn Hoàng [2].

Các tài liệu hiện có ghi nhận mốc thời gian ông theo giúp chúa Nguyễn có điểm khác biệt [1][2]. Châu bản triều Nguyễn và sách Thực lục tiền biên chép rằng vào mùa đông năm Mậu Ngọ (1558), khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Mạc Cảnh Huống đã đưa gia quyến đi theo giúp dập [1]. Trong khi đó, bài báo trên Báo Đà Nẵng nêu thông tin năm 1568 ông mới đưa gia đình vào Thuận Hóa và đến năm 1600, khi Nguyễn Hoàng trở lại đất này lần thứ hai, ông mới quyết định theo phò [2]. Ngoài ra, cuốn “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử” (1966) dẫn “Lê triều thông sử” của Lê Quý Đôn cho thấy Mạc Đăng Doanh không có người con nào tên Mạc Cảnh Huống; hậu duệ họ Nguyễn Trường giải thích tên gốc có thể đã được đổi để tránh phiền phức [2].

Hoạt động quân sự qua ba đời chúa Nguyễn

Theo gia phả dòng họ và các nghiên cứu lịch sử, Mạc Cảnh Huống nắm vai trò chỉ huy và tham mưu quân sự qua ba đời chúa gồm chúa Tiên Nguyễn Hoàng, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan [1][2]. Cùng với Nguyễn Ư Dĩ (hoặc Nguyễn Ư Kỷ) và Tống Phước Trị (Châu bản ghi Tống Phước Hiệp), ông được xem là một trong ba vị tướng phụ tá đắc lực thời sơ quốc [1][2].

Năm 1621, dưới thời chúa Sãi, ông thực hiện các chính sách hòa bình để ổn định vùng biên giới phía tây trước sự quấy nhiễu của các bộ tộc bản địa [1][2]. Năm 1627, khi tướng Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế chỉ huy 5.000 quân Trịnh tiến đánh Đàng Trong, ông tham gia vào chiến thắng đẩy lùi đạo quân này [2]. Năm 1633, đội quân do ông tham mưu và chỉ huy tiếp tục chặn đứng đợt tiến công lần thứ hai của quân Trịnh [1][2]. Tương truyền ông từng soạn thảo cuốn sách về thuật dùng binh mang tên “Binh thư trận đồ”, nhưng tác phẩm này đã thất lạc [2]. Con trai trưởng của ông là Mạc Cảnh Vinh lấy công chúa Ngọc Liên, giữ chức Phó tướng Lưu thủ Phú Yên, được ban quốc tính đổi sang họ Nguyễn Phúc, đến thời Tây Sơn đổi sang họ Nguyễn Trường [1].

Quãng đời tu thiền tại Trà Kiệu

Tài liệu Châu bản và các bài viết ghi lại Mạc Cảnh Huống sùng tín đạo Phật [1]. Năm Mậu Dần (1638), nguồn ghi ông ở tuổi 96 dưới triều chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, ông xin từ quan để dốc lòng tu hành [1][2]. Ông chọn làng Trà Kiệu thuộc dinh Quảng Nam (trước 7/2025: xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên; nay thuộc xã Duy Xuyên) để định cư và trở thành thủy tổ của dòng họ tại đây [1][2].

Năm Đinh Mùi (1667), ông tiến hành trùng tu ngôi chùa trên đồi Bảo Châu (Báo Đà Nẵng ghi tên đồi Bửu Châu), lấy pháp danh là Thuyền Cảnh Chân Tu và giữ vai trò trụ trì [1][2]. Nguồn Báo Đà Nẵng ghi khi trùng tu chùa ông ở tuổi 125 [2]. Cả hai bài viết đều nhắc lại truyền ngôn rằng nhờ tu thiền theo nhà Phật, ông sống tới 135 tuổi rồi mới viên tịch [1][2].

Sau khi ông mất, phần mộ ban đầu đặt trong khuôn viên vườn chùa [2]. Năm 1927, khi các chuyên gia Viện Viễn Đông Bác Cổ khai quật di chỉ thành Trà Kiệu, lăng mộ được triều đình nhà Nguyễn cho dời về phía nam khoảng 200 m dưới chân đồi [2]. Hiện khu lăng mộ có diện tích chưa tới 50 m², gồm mộ ông, mộ phu nhân cùng ba ngôi mộ con cháu [2]. Ngày 24/12/1907, vua Duy Tân ban sắc phong truy tặng ông là “Khai quốc công thần – Thượng đẳng thần” [2]; Châu bản triều Nguyễn ghi sắc phong tước “Khai quốc công thần Tráng Vũ tướng quân, Đô thống phủ Chưởng phủ sự, húy Trung Trinh” và đưa vào thờ tự tại đền Trung Nghĩa [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Thời điểm Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa: Châu bản triều Nguyễn chép ông theo vào từ năm 1558, còn Báo Đà Nẵng ghi năm 1568 ông mới đưa gia đình vào và năm 1600 mới theo phò [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Dữ kiện tuổi thọ 135 tuổi và khoảng thời gian sống 1542 – 1677 chỉ ghi nhận theo gia phả và truyền khẩu, chưa có kiểm chứng độc lập [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Sách Lê triều thông sử không chép tên Mạc Cảnh Huống trong số con của Mạc Đăng Doanh; giả thuyết đổi tên húy chỉ dựa trên lời truyền của dòng họ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tên đồi và tên chùa: tài liệu Châu bản ghi đồi Bảo Châu với chùa Bảo Châu Sơn tự, Báo Đà Nẵng ghi đồi Bửu Châu [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Chức danh truy phong thời vua Duy Tân có sự khác nhau về từ ngữ giữa văn bản Châu bản và sắc phong ngày 24/12/1907 [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, “Mạc Cảnh Huống – một vị khai quốc công thần dưới triều Nguyễn”, 01/06/2017, https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/mac-canh-huong-%E2%80%93-mot-vi-khai-quoc-cong-than-duoi-trieu-nguyen.htm, truy cập 23/10/2026.
  2. Phan Vinh, “Thăng trầm một đời tướng tài”, Báo Đà Nẵng, 27/11/2016, https://baodanang.vn/thang-tram-mot-doi-tuong-tai-3034996.html, truy cập 23/10/2026.