Trong các văn khắc Chăm ở Quảng Nam – Đà Nẵng, sông xuất hiện như mốc địa giới của đền thần, làng mạc và đồng ruộng. Bài viết của Sam di Pandu lần theo một số tên sông cổ và đề xuất liên hệ chúng với các dòng nước hiện biết, chủ yếu thuộc hệ thống sông Thu Bồn [1].
Sông trong cách nhìn về cảnh quan
Tác giả dẫn một thành ngữ Chăm có ý nói phía bắc có sông, phía nam có núi, dùng để diễn tả vị thế của những nơi như đền tháp, kinh đô và làng mạc [1]. Bài viết nhắc rằng dấu tích Campa ở vùng Quảng Nam – Đà Nẵng không chỉ gồm đền tháp; hệ thống thủy lợi với đồng ruộng, kênh mương, đê đập cũng là một phần của lịch sử khu vực [1].
Trong tiếng Phạn, từ chỉ sông được viết là Nadī; trong tiếng Chăm cổ, bài ghi Krauṅ cùng cách phiên âm /krɔ:ŋ/ [1]. Từ khóa này mở ra cách đọc các văn khắc như tư liệu về cảnh quan và ranh giới, bên cạnh nội dung liên quan đến đền thần hay người trị vì [1].
Mahānadī và các văn khắc ở Mỹ Sơn
Bài viết gọi Mahānadī là sông Lớn và cho biết tên này xuất hiện trong ba văn khắc thuộc địa bàn Quảng Nam: C.72 ở Mỹ Sơn, C.105 ở Hòn Cụt và C.147 ở Chiêm Sơn [1]. Văn khắc C.72 được phát hiện gần đền A1 tại Mỹ Sơn; tác giả dẫn nhận định của L. Finot rằng đây là bản hiến chương đầu tiên của khu vực [1].
Văn khắc C.147 ở Chiêm Sơn ghi phía bắc có sông Mahā [1]. Theo bài viết, tên sông Lớn trong giai đoạn vương triều Campapura, được đặt vào khoảng thế kỷ 4 – 7, thuộc địa giới Mỹ Sơn và hiện là một phần của hệ thống Thu Bồn [1]. Cách đồng nhất này là nhận định của tác giả dựa trên văn khắc và địa hình được trình bày trong bài [1].
Nayauna, Luvu và Bhauk Śirā
Với giai đoạn vương triều Indrapura, khoảng thế kỷ 8 – 10, bài viết nêu ba hệ thống sông gắn với ranh giới các đền thần: Nayauna, Luvu và Bhauk Śirā [1]. Tác giả liên hệ các tên này với hệ thống sông Thu Bồn và sông Ly Ly [1].
Văn khắc C.106 được phát hiện ở làng Bàn Lãnh, xã Điện Trung cũ, cách văn khắc C.66 ở Đồng Dương khoảng 12 dặm về phía bắc [1]. Bài viết mô tả đền Śrī Rudramaddhyeśvara được dựng tại đây; khu vực từ cánh đồng Ṅauk Rayā đến cửa sông Nayauna có hơn 100 cánh đồng, làng mạc và ao hồ mang địa danh Chăm cổ [1]. Tác giả cho rằng chúng chịu sự chi phối của hai nhánh phía bắc từ sông Thu Bồn, tách tại Cổ Tháp theo hướng đông bắc và đông nam [1].
Dựa vào địa hình Bàn Lãnh, tác giả nhận định Nayauna trong C.106 có thể chỉ hai nhánh của Mahānadī chảy về phía đông bắc và đông nam [1]. Bài viết trình bày đây là cách nhận diện từ địa hình, không phải một tên gọi đã được xác định dứt khoát [1].
Các tên sông ở những thời kỳ sau
Ở khu vực Cẩm Lệ, bài viết nhắc văn khắc C.211 tại Khuê Trung và C.142 tại Hóa Quê như chứng tích về việc vua Śrī Jaya Siṅhavarmadeva xây đền tháp và phân chia làng mạc, đồng ruộng [1]. Phế tích Phong Lệ cũng được xem trong bài là một trung tâm tôn giáo thuộc vương triều này [1].
Văn khắc C.140 ở Hương Quế, Quế Sơn hướng về phía đông, nơi bài viết xác định là sông Ly Ly [1]. Tác giả cho rằng lãnh thổ của các lãnh chúa có thể vươn tới Thu Bồn, Bà Rén, Trường Giang và vùng cao [1]. Bài viết cũng liên hệ thời vua Yāṅ Põ Ku Śrī Jaya Harivarmadeva Ciy Śivānandana đầu thế kỷ 13 với hai dòng sông được nêu trong C.100: sông qua kinh thành Siṅhapura, tức Trà Kiệu, và sông Yāṃ [1]. Cả hai được tác giả đặt trong hệ thống Thu Bồn, ở nhánh phía nam [1].
Các văn khắc C.89, C.64, C.227 và C.63 bổ sung địa danh sông hồ, đồng ruộng ở Mỹ Sơn, Chiên Đàn, An Mỹ và Khương Mỹ [1]. Với C.64, bài viết đặt sự kiện vua Śrī Harivarmadeva đánh chiếm vùng phía nam, từ sông Tam Kỳ đến đền Campeśvara ở Trà Kiệu, vào cuối thế kỷ 11 [1]. Các ký hiệu và tên riêng ở đây được giữ theo cách ghi trong bài báo [1]. Có thể đọc thêm về Campa trên đất Đà Nẵng, sông Vu Gia và sông Trường Giang.
Tra cứu liên quan
- Văn hóa Chăm: Campa trên đất Đà Nẵng, thánh địa Mỹ Sơn, ma nhai Ngũ Hành Sơn
- Sông ngòi: sông Thu Bồn, sông Vu Gia, sông Trường Giang
Điều còn chưa rõ
- Các phép đối chiếu Nayauna, Luvu, Bhauk Śirā, Mahānadī và Yāṃ với hệ thống sông hiện nay là lập luận được nêu trong bài viết; cần khảo cứu văn khắc và địa hình chuyên sâu để kiểm chứng [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Bài viết không cung cấp toàn văn hoặc bản dịch đầy đủ của từng văn khắc được nhắc đến [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Cụm thời gian “kéo từ thế kỷ 4 – 7” gắn với Campapura và các mốc vương triều khác được giữ theo bài báo; cách xác định niên đại chưa được đối chiếu thêm [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam (nay Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng), “Những dòng sông trong bia ký Chăm”, 27/01/2025, https://baodanang.vn/nhung-dong-song-trong-bia-ky-cham-3148245.html, truy cập 23/10/2026.