Văn khắc Chăm là các văn bản cổ khắc trên đá, gỗ, kim loại hoặc đất nung, giữ vai trò tư liệu quan trọng về lịch sử Champa [1]. Trong danh mục 170 văn khắc Chăm do G. Coedès công bố năm 1923, có 72 đơn vị tìm thấy ở Quảng Nam, nhiều hơn hẳn các tỉnh khác [1]. Khá nhiều văn khắc vẫn nằm lại trên địa bàn, một phần được đưa về Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội [1].
Khái niệm và hệ thống thống kê của G. Coedès
Trước đây giới nghiên cứu thường dùng chữ “văn bia” hoặc “bi ký”, nay chuyển sang dùng thuật ngữ “văn khắc” để chỉ chung các văn bản khắc trên đá, gỗ, kim loại và đất nung [1]. Phần lớn văn khắc Chăm còn lại đến nay nằm trên các tấm bia đá hoặc trụ đá ở các đền tháp, một số ít nằm ở vách đá tự nhiên, trên trang trí kiến trúc và vật dụng bằng kim loại [1].
Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các học giả người Pháp đã tiến hành sưu tập, phiên âm ra chữ Latin và dịch các văn bản này sang tiếng Pháp [1]. Năm 1923, học giả G. Coedès xuất bản tại Hà Nội tập “Danh mục thống kê tổng quát văn khắc Chăm và Cambodge”, đánh số thứ tự cùng ký hiệu C cho văn khắc Chăm gồm 170 đơn vị, từ C 1 đến C 170 [1]. Trong số 170 đơn vị này, có 72 văn bia được tìm thấy ở Quảng Nam, 25 ở Ninh Thuận, 18 ở Bình Định và 17 ở Khánh Hòa [1]. Tính đến thời điểm bài báo công bố, tổng số văn khắc Chăm được phát hiện trên cả nước đã lên tới 247 văn khắc [1].
Chữ viết và nội dung phản ánh
Văn khắc Chăm sử dụng hệ thống chữ Brāhmī hình thành vào thế kỷ 3 trước Công nguyên ở Ấn Độ, người Việt dịch là chữ Phạn (chữ viết của thần Brāhmī) [1]. Hệ thống chữ này ban đầu dùng để ghi tiếng Sanskrit ở Ấn Độ, sau đó được sử dụng để ghi các ngôn ngữ ở Đông Nam Á, bao gồm tiếng Chăm cổ [1]. Từ thế kỷ 8 trở đi, chữ Brāhmī được các địa phương cải biến dần trở thành chữ viết của các ngôn ngữ khác nhau [1].
Việc khắc bia của người Chăm cổ thường gắn liền với công việc xây dựng đền tháp [1]. Nội dung chủ yếu là những lời ca ngợi thần linh cùng các vị vua, ghi chép vật phẩm dâng cúng, kèm theo lời ban tặng công đức cho người gìn giữ hoặc lời răn đe kẻ phá hủy đền tháp, lễ vật [1]. Các văn khắc cung cấp thông tin xác thực về niên đại, vương triều, địa danh Champa xưa và phản ánh đời sống xã hội, tín ngưỡng [1]. Rải rác trong văn khắc còn nhắc đến những cuộc xung đột giữa các vùng trong Champa với nhau hoặc với các nước lân cận trong thiên niên kỷ đầu sau Công nguyên [1].
Một số văn khắc ghi nhận tại Quảng Nam
Ngoài một số văn khắc Chăm tìm thấy ở Quảng Nam được đưa về bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội, khá nhiều hiện vật vẫn nằm lại trên địa bàn [1].
Riêng tại di tích Mỹ Sơn (trước 7/2025: huyện Duy Xuyên), nay thuộc xã Thu Bồn, các nhà khoa học đã thống kê được 36 văn khắc [1]. Trong đó, văn khắc mang ký hiệu C 89 lập năm 1088/1089 bằng tiếng Chăm cổ, hiện bảo quản tại phòng trưng bày của khu di tích, ghi chép công đức của vua Jaya Indravarmadeva trong việc tái thiết xứ sở Champa sau chiến tranh [1]. Văn khắc mang ký hiệu C 100 lập năm 1157/1158, đang còn nguyên trạng ở khu tháp G, sử dụng chữ Sanskrit và Chăm cổ để ghi công đức của vua Jaya Harivarmadeva, người chiến thắng các nước láng giềng và dâng cúng thần Siva một ngôi tháp cùng các cánh đồng trong khu vực [1].
Bên cạnh Mỹ Sơn, di tích Đồng Dương (trước 7/2025: huyện Thăng Bình), nay thuộc xã Đồng Dương, có văn khắc C 66, di tích Hương Quế (trước 7/2025: huyện Quế Sơn) có văn khắc C 140 [1]. Dọc theo bờ nam của sông Thu Bồn còn có một số văn khắc trên vách đá tự nhiên, ghi lại các mốc địa giới mà các vị vua Champa hiến tặng thần Siva để nhận sự bảo hộ cho xứ sở và vương quyền [1].
Khảo đính và kiến nghị bảo tồn
Theo bài báo, dù phần lớn văn khắc Chăm ở Quảng Nam đã được các học giả người Pháp phiên âm và dịch thuật từ đầu thế kỷ 20, công việc phiên dịch vẫn cần tiếp tục khảo đính [1]. Nguyên nhân là do nội dung văn khắc gắn với phụng sự thần linh, phong cách ngôn ngữ cô đọng, sử dụng nhiều điển tích, ẩn dụ, thậm xưng, đồng thời nhiều nét chữ trên đá đã bị mòn vỡ [1].
Tác giả Võ Tây An kiến nghị cần tiến hành kiểm kê, bảo quản tốt nguồn di sản văn khắc, tổ chức giới thiệu nội dung để phục vụ nghiên cứu khoa học cũng như nhu cầu của đại chúng [1]. Bài báo cũng đề xuất việc lập hồ sơ xếp hạng cho bộ sưu tập văn khắc Chăm ở Quảng Nam nhằm tăng cường sự quan tâm của cộng đồng xã hội đối với di sản tư liệu này [1].
Tra cứu liên quan
- Nghiên cứu bi ký Champa: các dòng sông trong bia ký Chăm, bia Hóa Quê và bia Khuê Trung
- Địa bàn đền tháp: khu di tích Mỹ Sơn, Phật viện Đồng Dương
- Địa danh sông nước: sông Thu Bồn
Điều còn chưa rõ
- Tình trạng bảo tồn chi tiết và vị trí hiện thời của một số văn khắc ngoài Mỹ Sơn như C 66 tại Đồng Dương hay C 140 tại Hương Quế chưa được bài báo mô tả cụ thể [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh mục và thông tin cụ thể về các văn khắc mới phát hiện sau mốc 170 đơn vị của G. Coedès để nâng tổng số lên 247 chưa được liệt kê chi tiết trong nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Địa bàn hành chính cấp xã hiện nay của các điểm di tích ngoài Mỹ Sơn (như di tích Hương Quế trước 7/2025 thuộc huyện Quế Sơn) chưa được nguồn đề cập [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Di sản văn khắc Chăm tại Quảng Nam”, 06/06/2023, https://baodanang.vn/di-san-van-khac-cham-tai-quang-nam-3026580.html, truy cập 24/10/2026.