Con người

Trương Chí Cương

Trương Chí Cương (1919 – 1975) sinh tại xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình thợ thủ công [1]. Tiểu sử của Cổng thông tin thành phố ghi chặng hoạt động của ông qua nhiều tỉnh, khu vực và chức vụ, từ trước năm 1945 đến những năm cuối cuộc kháng chiến [1].

Những năm hoạt động đầu tiên

Năm 1936, Trương Chí Cương gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ [1]. Ba năm sau, ông bị bắt, nhận án tù một năm và bị giam tại nhà lao Hội An [1]. Sau khi ra tù, ông tiếp tục hoạt động và được bầu vào Phủ ủy Duy Xuyên [1].

Năm 1942, ông làm Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ. Tháng 6 cùng năm, ông lại bị bắt, bị kết án tù và đày lên Buôn Ma Thuột [1]. Sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật ngày 9/3/1945, ông thoát khỏi nhà lao và được phân công công tác ở Phú Yên [1]. Tại đây, ông cùng một số đảng viên thành lập Tỉnh ủy lâm thời, làm Trưởng ban khởi nghĩa, rồi được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy vào cuối năm 1945 [1].

Công tác ở miền Trung

Đầu năm 1947, Trương Chí Cương được giao làm Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận và Ủy viên Phân ban Cực Nam Trung Bộ, tức Khu VI về sau [1]. Trong giai đoạn 1950 – 1952, ông là Khu ủy viên Khu ủy V, phụ trách Bí thư Ban cán sự Cực Nam Trung Bộ [1]. Nguồn liệt kê khu vực này gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng [1].

Từ năm 1952 đến 1954, ông làm Bí thư Ban cán sự miền Tây Quảng Nam [1]. Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, ông giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng và Ủy viên Thường vụ Khu ủy V [1].

Tháng 7/1955, ông ra miền Bắc làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương; nhiệm kỳ này kết thúc vào tháng 10/1959 [1]. Cuối năm 1959, ông trở lại chiến trường miền Nam và được bổ sung vào Thường vụ Khu ủy V [1]. Tháng 1/1960, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng diễn ra bên sông A Vương; tại đại hội, Khu ủy V chỉ định ông làm Bí thư Tỉnh ủy [1]. Ông giữ chức vụ này đến giữa năm 1961 [1].

Tháng 5/1961, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đồng thời làm Phó bí thư Khu ủy V và Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ [1]. Trước cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ông được chỉ định làm Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà [1]. Tháng 11/1971, ông làm Chính ủy Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên [1].

Cuối đời

Theo tiểu sử, khi đang chuẩn bị trở lại chiến trường để tham gia Tổng công kích và nổi dậy mùa xuân 1975, Trương Chí Cương ngã bệnh và mất đột ngột tại Hà Nội vào tháng 3/1975 [1]. Nguồn không nêu ngày mất cụ thể [1].

Tên ông được đặt cho một con đường dài 290 m, rộng 8 m, gần cuối đường 2 Tháng 9, tại phường Hòa Cường theo địa giới hiện nay [1]. Nguồn gốc mô tả vị trí theo phường Hòa Cường, quận Hải Châu trước đây [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn không ghi ngày sinh hoặc ngày mất cụ thể, chỉ nêu mất vào tháng 3/1975. [CẦN KIỂM CHỨNG]
  • Nguồn ghi quê ông là xã Duy Châu; cần đối chiếu địa điểm này với ranh giới hành chính xã Thu Bồn mới nếu cần xác định đến thôn. [CẦN KIỂM CHỨNG]

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Trương Chí Cương (1919 – 1975)”, 14/03/2012, https://danang.gov.vn/en/web/dng/-/truong-chi-cuong-1919-1975-i, truy cập 23/10/2026.