Lịch sử

Xã Tân An và Nam An xưa

Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà
Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Tân An và Nam An là hai xã hiệu cổ nằm ở dải đất ven biển phía đông sông Hàn, vùng Mân Thái và Thọ Quang (trước 7/2025: các phường Mân Thái và Thọ Quang, quận Sơn Trà), nay thuộc phường Sơn Trà [1]. Nguồn tư liệu Châu bộ, văn tự Hán Nôm và gia phả dòng họ ghi lại quá trình hình thành làng xã từ thời chúa Nguyễn đến triều Nguyễn [1][2]. Di sản của hai xã xưa gắn liền với các làng chài ven chân bán đảo Sơn Trà cùng các văn bản thỏa thuận nhượng đất, ứng phó dịch bệnh và sưu dịch [1][2].

Nguồn gốc lập làng và Châu bộ năm 1740

Theo tài liệu Hán Nôm được trích dẫn trong bài báo của tác giả có họ hàng với tộc Trương Công, hai xã hiệu Nam An và Tân An xưa thuộc tổng An Lưu hạ, huyện Diên Phước, Điện Bàn dinh trấn [1]. Các xã hiệu này có gốc tích từ đời chúa Nguyễn Phúc Tần (năm 1662) [1]. Tuy nhiên, theo văn bản Châu bộ, đến ngày 20 tháng 6 năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), xã hiệu Tân An mới chính thức được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Nam An [1].

Khi lập xã Tân An vào năm 1740, có 6 người đại diện các phái tộc ký tên đồng thuận phân chia đất đai và cắm mốc giới với xã Phước Giang (nay là Phước Mỹ) cùng xã Nam An [1]. Sáu người này gồm xã trưởng Trương Công Bật, Nguyễn Hữu Giáo, Trần Văn Thiệt, Võ Văn Mo, Phan Văn Đốt và Nguyễn Văn Trừ [1]. Lúc phân chia, xã Nam An và xã Phước Giang đã ký văn bản thuận nhượng 21 mẫu đất cho xã Tân An [1].

Gia phả tộc Trần lập năm 1780 và được tu chính vào năm Tự Đức thứ 15 ghi nhận vai trò khai cơ của Thượng thư bộ Lại triều Lê Hy Tông là ông Trần Văn Cai (được phong năm 1692) [1]. Năm 1703, ông cùng 12 tôn phái, trong đó có ngài Trương Công Bật, đi về phương nam mở mang bờ cõi [1]. Đến năm 1705, các họ đệ đơn xin thành lập xã Nam An, phần lớn cư dân sống bằng nghề đánh bắt cá [1]. Năm 1735, ông Trần Văn Cai cùng 10 người làm đơn xin lập thêm xã Tân An, đến 5 năm sau mới có sắc phong chính thức [1]. Ông Trần Văn Cai được tôn làm tiền hiền xã Nam An, mất năm 1752 khi thọ 87 tuổi, phần mộ táng tại xứ đất Chim Sẻ thuộc xã Nam An [1].

Đất đai, dịch bệnh và sưu dịch thời triều Nguyễn

Di sản văn tự Hán Nôm còn lưu lại cho thấy nhiều mối quan hệ nhượng đất giữa các làng xã lân cận [1]. Năm Gia Long thứ 4 (1806), xã Nam An đồng ý nhượng một sở rừng cấm tại xứ Vịnh Vông cho xã Tân An làm miếu thờ sau khi nhận lễ vật gồm 5 quan tiền cùng trầu cau rượu [1]. Ngày 3 tháng 2 năm Tự Đức thứ 17, theo bài báo, Tổng đốc Nam Ngãi Đào Tấn chỉ đạo theo phương châm bớt nhiều thêm ít để giữ bờ cõi, xã Phước Trường đã nhượng phần cát trắng bỏ không tại 3 xứ đất Rạn Dài, Cồn Rừng, Cồn Lang (hơn 6 mẫu 6 sào) cho Tân An phát triển dân cư [1]. Cùng năm đó, Phước Trường nhượng thêm 2 sào đất tư ở xứ Vũng Bông cho Tân An vì tình láng giềng [1].

Ngày 9 tháng 5 năm Tự Đức thứ 18, sau hai năm tránh loạn do tàu quân Pháp (“Tây Dương”) tấn công rồi quay về, người dân Tân An rơi vào cảnh khánh kiệt tài sản [1]. Hai xã An Hải và Phước Trường đã họp dân, tự nguyện nhượng hơn 37 mẫu đất thực trưng và cát trắng bỏ hoang cho dân Tân An canh tác [1]. Bố chính Quảng Nam Đặng Huy Trứ báo cáo sự việc lên triều đình, vua Tự Đức chuẩn y và ban tặng biển ngạch “Thiện tục khả phong” cho hai xã An Hải và Phước Trường [1].

Về dịch bệnh, báo cáo ngày 4 tháng 10 năm 1850 (Tự Đức tam niên) của Tri phủ Điện Bàn Tôn Thất Trĩ ghi nhận đợt dịch khiến toàn huyện Diên Phước có 542 người chết, trong đó riêng xã Tân An có 7 người [1]. Báo cáo này xin gạch tên người chết trong sổ hộ tịch và xin tiền tuất để cấp phát [1].

Về sưu dịch, cư dân hai xã ven biển Nam An và Tân An phải đảm nhiệm tuần tra, cung cấp củi đốt và nước ngọt cho thuyền quan tuần tiễu từ Cù Lao Chàm đến bán đảo [1]. Khi bị quan điều động lên sông Cẩm Lệ đến Quá Giáng chở gạch xây thủy trại, mua lưu huỳnh, đá lửa và chờ đón binh mã, hai xã trưởng đã làm đơn xin miễn bớt và được quan Trấn đường chấp thuận chỉ giữ nhiệm vụ ngoài biển, miễn việc sông ngòi [1]. Ngoài ra, khi quan binh đòi đốn hạ hàng chục cây nam mai chắn gió của ngôi chùa ở xã Tân An đem nạp bán ở cửa biển Đà Nẵng, lý trưởng đã khiếu nại lên quan Bố chính và được chấp thuận giữ lại số cây này [1].

Biến chuyển địa danh qua các thời kỳ

Theo một cán bộ văn hóa nghỉ hưu được bài báo dẫn lời, khu vực bờ đông sông Hàn từng lập đơn vị hành chính quận Đông Giang vào năm 1956 [1]. Về sau vùng này đổi thành quận Ba thời chính quyền Sài Gòn [1].

Theo lời kể của lão ngư Lê Văn Trước, làng Tân An đổi tên thành Tân Thái vào năm 1903 [2]. Đến năm 1973, chính quyền Sài Gòn sáp nhập hai làng Tân Thái và Cổ Mân thành phường Mân Thái, tạo nên địa bàn làng chài Tân Thái [2].

Dấu tích của hai xã hiệu xưa hiện còn được lưu giữ qua các đình làng cổ [2]. Trong đó, đình Nam Thọ là nơi lưu giữ 34 bản sắc phong thời Nguyễn tương đối nguyên vẹn, với niên đại sớm nhất từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) và muộn nhất vào năm Bảo Đại thứ 9 (1933) [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Bài báo ghi Đào Tấn làm Tổng đốc Nam Ngãi vào năm Tự Đức thứ 17 (1864), chi tiết này cần đối chiếu lại niên biểu hành trạng của Đào Tấn vì chức quan này thường xuất hiện ở giai đoạn muộn hơn [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ranh giới đất đai cụ thể của 21 mẫu đất thuận nhượng giữa Nam An, Phước Giang và Tân An năm 1740 trên bản đồ thực địa ngày nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh tính chính xác và vị trí của ngôi chùa có trồng hàng cây nam mai chắn gió tại xã Tân An thời Tự Đức [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Cổ tích Đông Giang”, 13/02/2024, https://baodanang.vn/co-tich-dong-giang-3236629.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Vọng về tên làng cũ”, 02/03/2024, https://baodanang.vn/vong-ve-ten-lang-cu-3159598.html, truy cập 23/10/2026.