Cùng với thành Điện Hải ở tả ngạn, thành An Hải nằm bên hữu ngạn sông Hàn là vị trí phòng thủ trọng yếu ở cửa biển Đà Nẵng dưới triều Nguyễn [1][2]. Tòa thành này giữ vai trò tiền tiêu và trinh sát mặt biển, trước khi bị quân Pháp đánh phá trong trận chiến năm 1858 và dần biến mất dấu tích [1][2]. Diễn biến cuộc chiến thời kỳ này xem thêm tại bài Đà Nẵng 1858 – 1860.
Vị trí, quy mô và tổ chức phòng thủ
Theo Đại Nam nhất thống chí, thành An Hải nằm ở phía hữu Tấn Đà Nẵng, thuộc xã An Phúc, huyện Diên Phúc (nguồn Cổng thông tin điện tử ghi làng An Hải) [1][2]. Địa bàn này nay thuộc khu vực phường An Hải (trước 7/2025 là phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà), đối xứng với thành Điện Hải qua sông Hàn [1]. Tác giả Võ Văn Dật nhận định vị trí ngôi thành xưa có thể là khu vực An Đồn ngày nay [1].
Tháng 2 năm Quý Dậu (1813), vua Gia Long sai Tiền quân Nguyễn Văn Thành chỉ đạo đắp đài Điện Hải bên tả và bảo An Hải bên hữu cửa biển Đà Nẵng, cắt đặt 500 quân đóng giữ [1][2]. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), bảo An Hải được xây lại bằng gạch; đến năm Minh Mạng thứ 15 (1834), triều đình đổi gọi là thành An Hải và cấp phát ấn đồ ký bằng đồng [1][2]. So với Điện Hải (chu vi 139 trượng, cao 1 trượng 2 thước, hào rộng 4 trượng 5 thước, 3 cửa, 30 ụ đại bác), thành An Hải có quy mô nhỏ hơn nhưng giữ vai trò xung yếu [1]. Thành có chu vi 41 trượng 2 thước (khoảng 165m), cao 1 trượng 2 thước (khoảng 4,5m), hào sâu 1 trượng (khoảng 4m), mở 2 cửa, dựng 1 kỳ đài và bố trí 22 ụ pháo đài [1][2]. Quân số đồn trú thường trực tại thành về sau duy trì khoảng 200 lính; đến năm 1840, Tham tri bộ Công Nguyễn Công Trứ từng đề nghị tăng quân số An Hải ngang bằng Điện Hải để tăng sức phòng thủ [1].
Ngoài việc ngăn chặn tàu thuyền xâm nhập lòng sông, thành An Hải còn là trạm quan sát và phát tín hiệu báo động [1]. Khi nhậm chức Tuần phủ Quảng Nam, Tham tri bộ Lễ Nguyễn Tri Phương quy định binh sĩ tại An Hải dùng kính thiên lý quan sát tàu thuyền ngoài vịnh [1]. Khi thấy tàu buồm lớn, quân sĩ treo cờ đỏ (nếu có 1 – 2 chiếc) hoặc cờ gấm đỏ trắng (nếu có từ 3 – 4 chiếc trở lên) [1]. Sau khi nhận diện, nếu là tàu trong nước thì đổi sang cờ vàng; nếu là tàu nước ngoài thì treo cờ gấm lam trắng [1]. Căn cứ cờ hiệu tại An Hải, binh lính trên Hải Vân Quan sẽ làm sớ hỏa tốc chạy trạm cấp báo về kinh đô Huế, đồng thời thành Điện Hải phát tin về dinh Tuần phủ ở Vĩnh Điện [1].
Trận chiến năm 1858 và số phận ngôi thành
Sáng ngày 1/9/1858, hỏa lực đại bác từ tàu chiến của liên quân Pháp – Tây Ban Nha nã dồn dập vào An Hải và Điện Hải [1][2]. Chỉ sau nửa giờ pháo kích, một phần lớn sức chiến đấu của quân triều đình bị tê liệt do trang bị vũ khí chênh lệch lớn [2]. Đến 10 giờ 30 cùng ngày, kho thuốc súng của thành An Hải bị trúng đạn pháo từ pháo hạm Mittraille [1]. Sang sáng ngày 2/9/1858, quân Pháp kiểm soát thành An Hải và bố trí 2 đại đội lính Pháp cùng nửa đại đội lính Tây Ban Nha đóng giữ [1]. Sau khi hai tòa thành thất thủ, vua Tự Đức đã cách chức Tổng đốc Trần Hoằng, cử Đào Trí Phú quyền nhiếp, đồng thời điều Thống chế Lê Đình Lý cùng Tham tri Bộ Binh Phan Khắc Thiện mang 2.000 quân tinh nhuệ vào tiếp ứng [2].
Về thời điểm thành An Hải biến mất, các tài liệu ghi chép có sự khác nhau [1][2]. Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng cho biết thành An Hải bị phá ngay sau khi quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng vào tháng 2/1860 [2]. Tuy nhiên, theo bài viết của tác giả Lê Thí dẫn hồi ký của Đại tá Pháp Henri de Ponchalon, trưa ngày 21/3/1860 quân đội viễn chinh mới rút khỏi thành An Hải, sau đó công binh cho nổ tung kho thuốc súng và đốt lều trại tại pháo đài [1]. Đến năm 1862, triều đình hạ cấp thành An Hải xuống làm đồn nhằm giảm gánh nặng quân số sau Hiệp ước Nhâm Tuất [1]. Sử liệu năm 1864 ghi nhận Hộ đốc Nguyễn Hiên và Bang biện Phạm Truân từng tâu xin triều đình giữ nguyên lính và súng đóng giữ tại đồn An Hải vì đây là một trong 7 vị trí phòng thủ quan yếu [1]. Do đó, dấu tích đồn An Hải biến mất hoàn toàn vào giai đoạn sau này chứ không phải bị san phẳng ngay đầu năm 1860 [1].
Tra cứu liên quan
- Hệ thống phòng thủ ven biển: thành Điện Hải, Hải Vân Quan
- Nhân vật lịch sử: Lê Đình Lý
- Địa bàn và sự kiện: phường An Hải, sông Hàn, Đà Nẵng 1858 – 1860
Điều còn chưa rõ
- Năm khởi lập bảo đất An Hải: bài báo có đoạn nêu năm Gia Long thứ 11 (1813), nhưng Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí đều chép năm Gia Long thứ 12 (1813) [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên làng xã sở tại thời Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí bản trích ở nguồn 1 ghi xã An Phúc (huyện Diên Phúc), trong khi nguồn 2 ghi làng An Hải [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm và nguyên nhân ngôi thành biến mất hoàn toàn: nguồn Cổng thông tin ghi bị phá khi Pháp rút tháng 2/1860; tư liệu của tác giả Lê Thí chỉ ra đồn An Hải vẫn còn lính đóng giữ đến năm 1864, chưa rõ mốc phế tích bị triệt giải cụ thể [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “An Hải – ngôi thành đã… mất dấu!”, 07/10/2018, https://baodanang.vn/an-hai-ngoi-thanh-da-mat-dau-3087716.html, truy cập 23/10/2026.
- Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Thành An Hải”, 16/11/2013, https://danang.gov.vn/en/web/dng/-/thanh-an-hai-i, truy cập 23/10/2026.