Lịch sử

Trận địa núi Liệt Kiểm và núi Ngang ở Hiệp Đức

Trong địa hình đồi núi ở vùng Hiệp Đức, núi Liệt Kiểm là điểm cao có tầm quan sát bao quát từ ngã ba Đồng Tranh đến phía đông quận lỵ Hiệp Đức cũ và dọc thung lũng sông Trầu [1]. Cùng với núi Ngang, Chư Gan (Chia Gan), Cao Lao và Trà Linh, điểm cao này nằm trong chuỗi trận địa gắn với các đợt giao tranh dẫn tới ngày giải phóng Hiệp Đức 30/4/1972 [1][2].

Địa thế quân sự của núi Liệt Kiểm và các điểm cao ở Hiệp Đức

Theo bài viết của tác giả Quế Hà trên Báo Đà Nẵng, địa hình đồi núi Hiệp Đức trong thời kỳ chiến tranh có nhiều điểm cao giữ vị trí quan trọng về tác chiến quân sự [1]. Ở phía bắc là núi Chôm, nơi có đèo Răm và đèo Rập Cu thông qua thung lũng Quế Sơn [1]. Phía tây có các điểm cao núi Tráp, Gò Đu và núi Bàn Cờ [1]. Ở phía đông nam là núi Liệt Kiểm, kéo dài lên hướng tây nam nối với núi Chia Gan (bài ký sự của Nguyễn Điện Nam gọi là Chư Gan) [1][2].

Từ trên đỉnh núi Liệt Kiểm, tầm nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn: hướng đông quan sát được từ ngã ba Đồng Tranh đến phía đông quận lỵ Hiệp Đức cũ; hướng nam nhìn suốt từ An Tráng qua Phước Tuy, Phước Hòa, dọc thung lũng nam – bắc sông Trầu cho đến Châu Sơn [1]. Nhờ vị thế khống chế tầm nhìn này, khu vực đỉnh đồi Liệt Kiểm từng được bố trí tổ chốt trong thời kỳ chiến tranh [1].

Trận địa tháng 4/1972 và đợt chiến đấu giải phóng Hiệp Đức

Tư liệu báo chí ghi nhận dấu mốc tháng 4/1972 tại trận địa Liệt Kiểm qua bức ảnh của nhà báo Xuân Quang chụp nhà văn Vũ Thị Hồng đứng bên xác một xe tăng của quân đối phương [1]. Theo lời kể trong bài báo, vào thời điểm đó, nhà văn Vũ Thị Hồng được bộ đội dẫn đường leo bộ mất 5 tiếng đồng hồ mới lên tới đỉnh đồi Liệt Kiểm để quay phim thực địa và thăm các chiến sĩ giữ chốt [1]. Hơn 50 năm sau chiến tranh, việc tiếp cận lại đỉnh núi này vẫn gặp nhiều trở ngại do đường dốc và bom đạn còn sót lại dưới lòng đất [1].

Trong ký sự của Nguyễn Điện Nam trên Báo Đà Nẵng, Liệt Kiểm và núi Ngang được đặt trong chuỗi trận địa nối tiếp nhau ở vùng Hiệp Đức, bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa Ông Tía bên dòng Trà Nô ngày 13/3/1960 (với đội tự vệ 11 người và 30 gia đình người Ca Dong dưới chân núi Vin nổi dậy đánh một tiểu đội quân đối phương) cho đến các điểm chiến sự tại Liệt Kiểm, Chư Gan, núi Ngang, Cao Lao, Trà Linh và Đồng Làng [2]. Dọc tuyến sông Thu Bồn chảy qua Hòn Kẽm Đá Dừng và bến Trà Linh, các lực lượng vũ trang còn dựa vào địa thế núi đá để đánh trả chiến thuật `”Trực thăng vận”`; tại bến Trà Linh hiện có tượng đài chiến thắng `”Trực thăng vận”` [1].

Các đợt tác chiến trên địa bàn đã dẫn tới việc giải phóng Chi khu quận lỵ Hiệp Đức vào ngày 30/4/1972 [2]. Thiếu tướng Nguyễn Văn Trí – nguyên chỉ huy Trung đoàn 38 từng tham chiến tại Hiệp Đức – cho biết đơn vị của ông đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang huyện Quế Tiên (tên đơn vị thời điểm đó) và người dân địa phương trong đợt chiến đấu giải phóng chi khu quận lỵ này [2].

Hậu cứ Khu ủy Khu 5 sau năm 1972

Theo diễn văn tại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng Hiệp Đức (30/4/1972 – 30/4/2022) được Báo Đà Nẵng dẫn lại, Hiệp Đức là một trong số ít khu vực ở miền Nam được giải phóng sớm, qua đó phá vỡ tuyến phòng thủ của quân đối phương ở phía tây Quảng Nam [2]. Sau mốc 30/4/1972, vùng đất này trở thành hậu cứ cho chiến trường Quảng Nam và Quảng Đà [2].

Trong giai đoạn 1973 – 1975, căn cứ chỉ huy cuối cùng của Khu ủy Khu 5 đã chuyển từ Nước Oa (Trà My) về đóng rải rác dưới tán rừng bên bờ sông Trà Nô thuộc vùng Phước Trà, Sông Trà cũ (nay thuộc xã Phước Trà; xem Khu ủy Khu 5 ở Sông Trà), hoạt động cho đến ngày giải phóng Tam Kỳ và giải phóng Đà Nẵng [1][2]. Số liệu tổng kết tại lễ kỷ niệm năm 2022 ghi nhận địa bàn huyện Hiệp Đức cũ có 1.578 liệt sĩ, 461 thương binh, bệnh binh và 421 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, cùng nhiều chiến sĩ từ các địa phương khác tử trận trên những ngọn đồi trong vùng [2]. Ngày nay, các dòng sông Trầu, sông Khang chảy qua vùng chiến trường xưa đều đổ nước về khu vực hồ thủy lợi Việt An và thượng nguồn Thu Bồn [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Hai bài báo nguồn chỉ nhắc tên núi Ngang trong chuỗi địa danh chiến trường ở Hiệp Đức (Liệt Kiểm, Chư Gan, núi Ngang, Cao Lao, Trà Linh, Đồng Làng) nhưng không nêu ngày tháng cụ thể, phiên hiệu đơn vị tham chiến hay diễn biến trận đánh riêng tại núi Ngang [1][2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Với trận địa núi Liệt Kiểm, nguồn mới ghi nhận mốc tháng 4/1972, hình ảnh xác xe tăng của quân đối phương và việc bộ đội lập tổ chốt trên đỉnh đồi, chưa có số liệu thương vong của các bên tham chiến hay hồ sơ xếp hạng di tích [1][2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Vị trí hành chính chi tiết của đỉnh núi Liệt Kiểm và núi Ngang thuộc xã mới nào sau đợt sắp xếp tháng 7/2025 chưa được hai bài báo xác định cụ thể [1][2] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Quế Hà, Báo Đà Nẵng, “Dấu chân trên đỉnh đồi”, 15/10/2024, https://baodanang.vn/dau-chan-tren-dinh-doi-3142762.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Nguyễn Điện Nam, Báo Đà Nẵng, “Lưu luyến vùng đất HIỆP”, 1/9/2024, https://baodanang.vn/luu-luyen-vung-dat-hiep-3140407.html, truy cập 23/10/2026.