Văn hoá

Chữ viết Cơ Tu: từ chữ cách mạng đến từ điển C’tu – Kinh

Hệ thống chữ viết của đồng bào người Cơ Tu từng được xây dựng và đưa vào giảng dạy trong thời kỳ chiến tranh, thường được bà con gọi là “chữ cách mạng” [1]. Sau năm 1975, hệ thống chữ này dần mai một tại các vùng miền núi [1]. Trước nguy cơ đó, cán bộ và nhà nghiên cứu địa phương đã tìm cách khôi phục, bổ sung qua các công trình từ điển và hội thảo ngôn ngữ [1].

Quá trình xây dựng chữ viết thời chiến tranh

Trước đây, đồng bào Cơ Tu ở các huyện miền núi Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang (Quảng Nam) và A Lưới, Nam Đông (Thừa Thiên Huế) chưa có chữ viết [1]. Khi tuyên truyền chủ trương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cán bộ tăng cường từ miền xuôi phải ăn ở cùng nhân dân tại các thôn bản nhiều năm và dùng các câu nói lý, hát lý bằng tiếng Cơ Tu để giải thích [1]. Cuối năm 1951 và đầu năm 1952, một vài người ở thôn Tr’ghiing (thôn Tu Núc, xã Cà Dăng, huyện Đông Giang trước 7/2025) mới bắt đầu học chữ phổ thông [1].

Năm 1954, Huyện ủy Hiên đặt vấn đề xây dựng bộ vần chữ viết Cơ Tu [1]. Đến năm 1956, Ban Cán sự miền Tây giao cho ông Lê Hồng Mao (người Cơ Tu gọi là Conh Ta Lăng), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Quách Xân (Conh Axơớp), nghiên cứu hệ thống chữ viết [1]. Ban đầu, chữ Cơ Tu được hai ông giảng dạy cho đồng bào tại trường Zhương (huyện Nam Giang cũ), trường Za Hung (trước 7/2025: xã Za Hung, huyện Đông Giang), nay thuộc xã Đông Giang, và thôn T’ghêy (trước 7/2025: xã A Vương, huyện Tây Giang), nay thuộc xã Avương [1].

Đến năm 1965, chữ viết được đưa vào giảng dạy tại trường Apăng thuộc xã Sông Kôn (trước 7/2025: huyện Đông Giang), nay là xã Sông Kôn [1]. Lúc này hệ thống chữ viết cơ bản đạt yêu cầu và được đưa vào sử dụng rộng rãi [1]. Tờ báo “Gung Dưr” (Vùng lên) bằng chữ Cơ Tu ra đời, giúp người Cơ Tu biết chữ và nắm bắt thông tin thời chiến tranh [1]. Người Cơ Tu gọi đây là “chữ cách mạng” vì nhờ có cách mạng mà đồng bào mới có chữ viết [1]. Dù vậy, sau năm 1975, chữ viết Cơ Tu dần biến mất [1].

Công trình từ điển và thảo luận về tộc danh

Trước nguy cơ mất dần chữ viết, ông Bhriu Liếc (thời điểm bài báo là Bí thư Huyện ủy Tây Giang) đã nghiên cứu, sưu tầm để biên soạn cuốn Từ điển Tiếng thông dụng C’tu – Kinh và văn hóa làng C’tu [1]. Tác phẩm nhằm giúp cán bộ người Kinh công tác tại vùng đồng bào biết ngôn ngữ bản địa, đồng thời giúp người Cơ Tu biết chữ để tiếp tục giữ gìn ngôn ngữ [1].

Từ góp ý của nhiều người có kinh nghiệm, ông Bhriu Liếc nhận thấy cuốn từ điển cần được bổ sung, sửa đổi [1]. Về tộc danh, ông cho biết tên gọi của dân tộc đang được viết bằng nhiều cách khác nhau như Cơtu, Cơ Tu, Ca Tu, Cờ – Tu, gây khó khăn cho việc quản lý giấy tờ tùy thân của các cơ quan chức năng [1]. Trước đây ông Quách Xân chuyển ngữ từ “Cơtu” thành “Ctu”; nhóm của ông Bhriu Liếc chủ trương viết là “C’tu” tương tự cách viết các dân tộc M’nông, H’mông, H’rê [1]. Tuy nhiên, do giấy tờ tùy thân và tộc danh đã được công nhận trong các văn bản pháp luật nên rất khó sửa, đành viết theo thói quen cũ là “Cơtu” [1].

Đặc điểm hệ thống chữ và vùng ngữ âm chuẩn

Tại hội thảo thống nhất chữ viết Cơ Tu bổ sung vào cuốn từ điển (diễn ra trước thời điểm bài báo, tháng 12/2014), nhiều ý kiến đã thảo luận về hệ thống ký tự và phiên âm [1]. Chữ Cơ Tu sử dụng các nguyên âm (a, o, u, ư), tổ hợp chữ cái nguyên âm đôi (ua, ươ, oa), phụ âm (b, c, d, t…) và tổ phụ âm (th, ch, tr…) [1].

Điểm khác so với chữ phổ thông gồm hai phụ âm z, j; ba phụ âm cuối h, l, r đứng sau nguyên âm (ah, ol, ur); bốn tổ hợp chữ cái ghi nguyên âm đôi oo, oơ, ơơ, êê; năm nguyên âm dài aa, ii, uu, ưư, ôô; và 20 tổ hợp âm phụ (bh, bhl, đh, zr, dz…) [1]. Chữ viết Cơ Tu sử dụng thanh điệu ngang, sắc, nặng cùng trọng âm (”) để người đọc phát âm chuẩn, ví dụ amế (mẹ), achị (rựa), k’đị (coi thường) [1].

Để thể hiện từ đa tiết, các đại biểu thống nhất đánh dấu ranh giới âm tiết phụ với âm tiết chính bằng dấu phẩy viết trên con chữ cuối cùng của âm phụ, như ma”nứih (người), ga’mặc (lớn), ân’loong (cây), a’óc (heo) [1]. Đối với các từ đa âm tiết ghép lại khó đọc, hội thảo thống nhất bỏ nguyên âm ơ ở giữa các âm tiết phụ và thay bằng dấu nháy đơn, ví dụ đhơrơluônh (xuống dốc) viết thành đh’r’luônh, hay caay (đau) viết thành k’ay [1].

Chữ viết Cơ Tu chủ yếu được lấy ngữ âm chuẩn tại một số xã tập trung đông dân cư: xã A Vương (huyện Tây Giang cũ, nay thuộc xã Avương); các xã A Tiêng, Dang, Lăng (huyện Tây Giang cũ, nay thuộc xã Tây Giang); các xã Arooi, Tà Lu, Za Hung và Prao (huyện Đông Giang cũ, nay thuộc xã Đông Giang); cùng các xã Zuôih, Chà Vàl (huyện Nam Giang cũ, nay thuộc xã Nam Giang) [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Thời gian tổ chức và thành phần chính thức tham dự hội thảo thống nhất chữ viết; bài báo chỉ ghi chung là “mới đây” [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Mức độ phổ biến của bộ chữ sau khi cuốn từ điển được bổ sung hoàn thiện [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Quy định hành chính chính thức công nhận chuẩn chữ viết Cơ Tu trên toàn địa bàn [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Tìm lại chữ viết Cơ Tu”, 14/12/2014, https://baodanang.vn/tim-lai-chu-viet-co-tu-3029209.html, truy cập 27/10/2026.