Theo mộc bản sách “Đại Nam thực lục tiền biên” (quyển 1, mặt khắc 22), vào năm Giáp Thìn thứ 47 (1604), chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đổi tên huyện Hy Giang thuộc phủ Thăng Hoa thành huyện Duy Xuyên [1][3]. Từ một huyện trải dọc trung và hạ lưu sông Thu Bồn, qua hơn bốn thế kỷ điều chỉnh địa giới, vùng đất mang danh xưng này từ tháng 7/2025 thuộc địa bàn xã Duy Xuyên, xã Nam Phước, xã Thu Bồn và xã Duy Nghĩa của thành phố Đà Nẵng [2].
Từ đất Chiêm Động và huyện Hy Giang đến năm 1604
Theo kết quả nghiên cứu khảo cổ học được Báo Đà Nẵng dẫn lại năm 2024, cách đó khoảng 2.500 năm, lớp cư dân đầu tiên thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã cư trú tại vùng đất Duy Xuyên, tiếp nối là cư dân văn hóa Champa [3]. Năm 1306, vua Chiêm Chế Mân giao hai châu Ô và Lý cho Đại Việt, mở đầu các đợt di dân người Việt về phương Nam cộng cư với người Chăm để lập làng xã [1][2]. Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam; tiền thân của Duy Xuyên khi ấy là huyện Hy Giang, một trong ba huyện của phủ Thăng Hoa [1][2].
Mộc bản sách “Đại Nam nhất thống chí” (quyển 5, mặt khắc 5) mô tả huyện Duy Xuyên nằm ở phía nam của phủ, chiều đông – tây cách nhau 77 dặm, chiều nam – bắc cách nhau hơn 8 dặm; phía đông giáp huyện Lễ Dương, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man, phía nam giáp huyện Quế Sơn và phía bắc giáp huyện Diên Phước [3]. Sách chép vùng này xưa là đất Chiêm Động của Chiêm Thành, đời Trần cho lệ vào châu Thăng, đời Lê đổi làm huyện Hy Giang thuộc phủ Thăng Hoa, đến đầu bản triều thì đổi tên thành Duy Xuyên [3].
Trước khi đổi tên huyện hai năm, vào năm Nhâm Dần (1602), mộc bản “Đại Nam thực lục tiền biên” (quyển 1, mặt khắc 21) ghi nhận vùng Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có [3]. Khi vượt núi Hải Vân vào Quảng Nam xem xét tình hình năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng sai lập dinh trấn tại xã Cần Húc để xây kho chứa lương thực; theo bài viết trên Báo Đà Nẵng, địa danh Cần Húc được nhiều người cho là thuộc huyện Duy Xuyên nhưng chưa xác định chắc chắn [3]. Đến năm Giáp Thìn thứ 47 (1604), mộc bản quyển 1, mặt khắc 22 ghi rõ chúa Nguyễn Hoàng lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn quản 5 huyện (bài Báo Đà Nẵng chép là Tân Phước, bài Báo Tuổi Trẻ chép là Tân Phúc, cùng An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu) lệ vào xứ Quảng Nam; đồng thời đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi, huyện Lê Giang làm huyện Lễ Dương và huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên [1][3].
Những lần thay đổi địa giới hành chính
Trong tham luận “Diên cách lịch sử huyện Duy Xuyên”, TS. Lê Thị Mai (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) cho biết từ năm 1604, ngoài một thời gian ngắn là tên phủ hoặc quận, Duy Xuyên xuyên suốt là tên một huyện lớn của Quảng Nam [2]. Lúc rộng nhất, đất đai của huyện bao quát vùng trung và hạ lưu sông Thu Bồn, trải trên địa phận huyện Duy Xuyên cũ, huyện Quế Sơn cũ và một phần các huyện Thăng Bình, Đại Lộc, Nông Sơn, Hiệp Đức cùng thành phố Hội An cũ [2].
Theo sử liệu mộc bản, từ khi xuất hiện danh xưng năm 1604 đến triều Gia Long, địa giới huyện Duy Xuyên gần như không có biến động lớn [3]. Năm Ất Mùi (1835), vua Minh Mệnh cho cắt 4 tổng thuộc huyện Duy Xuyên và 1 tổng thuộc huyện Lễ Dương để lập huyện Quế Sơn (xem thêm huyện Quế Sơn lập năm 1836), đồng thời chuyển huyện Duy Xuyên về thuộc phủ Điện Bàn [3]. Đến năm Nhâm Tý (1912), theo lời xin của Hiệp biện lãnh Tổng đốc Hồ Đắc Trung, vua Duy Tân cho trích 9 xã thuộc hạt Duy Xuyên gồm Ngọc Kinh Đông Tây, Lập Thạch, Cam Lâm, Hữu Trinh, Hội Khách, Trung Đạo, Tân Đại và Thuận An để lập riêng tổng An Hòa, sáp nhập vào huyện Đại Lộc [3]. Trước thời điểm bỏ cấp huyện vào tháng 7/2025, huyện Duy Xuyên gồm 13 xã và 1 thị trấn là Nam Phước [3].
Cư dân, kinh tế và văn hóa qua hội thảo năm 2024
Ngày 30/6/2024, UBND huyện Duy Xuyên cũ phối hợp với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Duy Xuyên trong tiến trình lịch sử dân tộc” nhân kỷ niệm 420 năm danh xưng Duy Xuyên (1604 – 2024) [2]. Hội thảo nhận được 118 tham luận của 250 tác giả từ khoảng 60 cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý khoa học; ban tổ chức chọn 49 bài (chiếm 40%) in kỷ yếu có chỉ số ISBN, tập trung vào 4 nhóm nội dung: lịch sử mở đất, lập làng và dòng họ; lịch sử đấu tranh và bảo vệ; lịch sử kinh tế; thành tựu văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo [1][2]. Theo bài viết trên Báo Tuổi Trẻ (soạn trước hội thảo và đăng tháng 8/2024), chuỗi kỷ niệm còn có chương trình nghệ thuật “Tự hào một dải gấm hoa” tối 19/8 tại sân vận động Chợ Chùa (thị trấn Nam Phước cũ, nay thuộc xã Nam Phước) và lễ kỷ niệm ngày 20/8/2024 [1].
Về quá trình tụ cư, nhà nghiên cứu Tôn Thất Hướng (Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng) nhận định cư dân mở cõi đến Duy Xuyên chủ yếu theo đường biển và qua sông Thu Bồn [2]. Tổ tiên các tộc họ phần lớn từ đồng bằng Bắc Bộ (chủ yếu xứ Thanh – Nghệ, một số ít ở Hải Dương) vào lập nghiệp dọc sông Thu Bồn từ năm 1471, cùng một bộ phận theo Nguyễn Hoàng năm 1558 [2]. Cư dân vùng đông Duy Xuyên canh tác trên đất phù sa, lập các vạn chài đánh cá trên sông và biển, phát triển nghề thủ công (chiếu cói, tre nan, cá mắm) và buôn bán đường thủy nối với Hội An qua cảng Trung Phường – nơi tập trung nhiều ghe bầu ở xứ Đàng Trong [2].
Trên nền tảng vùng kinh đô Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm, đời sống cộng cư Chăm – Việt đã tạo nên các sinh hoạt tín ngưỡng như lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Bà Chiêm Sơn và lễ hội Bà Chúa Tằm Tang [1][2]. Nhà nghiên cứu Trương Công Huỳnh Kỳ cho biết đây cũng là nơi chúa Nguyễn cho xây dựng chùa chiền sớm ở Quảng Nam, có nơi an nghỉ của Đoàn Quý Phi và cụm 4 di tích kiến trúc tôn giáo tại thôn Chiêm Sơn, xã Duy Trinh cũ (nay thuộc xã Duy Xuyên) gồm Triền Tranh, chùa Vua, gò Gạch và gò Nồi [2].
Tra cứu liên quan
- Địa bàn và sông ngòi: xã Duy Xuyên, xã Nam Phước, xã Thu Bồn, sông Thu Bồn, huyện Quế Sơn lập năm 1836
- Di sản và lễ hội: Trà Kiệu, thánh địa Mỹ Sơn, lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Bà Chiêm Sơn
Điều còn chưa rõ
- Vị trí cụ thể của xã Cần Húc, nơi chúa Nguyễn Hoàng sai lập dinh trấn và kho lương năm Nhâm Dần (1602), mới được bài viết trên Báo Đà Nẵng ghi nhận là “được nhiều người cho rằng” thuộc huyện Duy Xuyên, chưa có kết luận xác định chắc chắn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Sự kiện cắt 4 tổng của huyện Duy Xuyên và 1 tổng của huyện Lễ Dương để lập huyện Quế Sơn được bài viết về Mộc bản triều Nguyễn ghi vào năm Ất Mùi (1835), trong khi tư liệu khác về Quế Sơn ghi mốc lập huyện Quế Sơn là năm 1836 [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên một trong 5 huyện thuộc phủ Điện Bàn năm 1604 được bài Báo Đà Nẵng dẫn mộc bản chép là Tân Phước, còn bài Báo Tuổi Trẻ chép là Tân Phúc [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Tuổi Trẻ, “420 năm Danh xưng Duy Xuyên – vùng đất giàu truyền thống và trù phú”, 17/8/2024, https://tuoitre.vn/420-nam-danh-xung-duy-xuyen-vung-dat-giau-truyen-thong-va-tru-phu-20240816160523645.htm, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Hội thảo khoa học ‘Duy Xuyên trong tiến trình lịch sử dân tộc’: Vùng đất thiêng giàu bản sắc”, 1/7/2024, https://baodanang.vn/hoi-thao-khoa-hoc-duy-xuyen-trong-tien-trinh-lich-su-dan-toc-vung-dat-thieng-giau-ban-sac-3137220.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Danh xưng Duy Xuyên qua Mộc bản triều Nguyễn”, 26/5/2024, https://baodanang.vn/danh-xung-duy-xuyen-qua-moc-ban-trieu-nguyen-3135369.html, truy cập 23/10/2026.