Ghe bầu là phương tiện đường biển chủ yếu của cư dân miền Trung và xứ Quảng trong nhiều thế kỷ [1]. Thuyền vận hành bằng buồm, chuyên chở hàng hóa buôn bán đường dài và gắn liền với đời sống văn hóa vùng duyên hải [1].
Tên gọi và ghi nhận trong từ điển
Theo Báo Quảng Nam, tên gọi ghe bầu được ghi nhận trong các từ điển hàng hải quốc tế như Le petit Larousse của Pháp và từ điển Bách khoa Britannica của Anh [1]. Trong nước, các học giả Huỳnh Tịnh Của trong cuốn “Đại Nam quấc âm tự vị” và Vương Hồng Sển trong “Tự vị tiếng Việt miền Nam” giải thích đây là loại thuyền buồm đi biển dùng chở hàng hóa [1].
Về nguồn gốc ngôn ngữ, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhận định tên “ghe bầu” là biến âm từ chữ Prau hoặc Perahu trong tiếng Chăm, vốn mang nghĩa chỉ ghe thuyền [1]. Hình ảnh con thuyền cũng đi vào đời sống dân gian qua câu ca dao: “Ghe bầu trở lái về đông / Con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi” [1].
Cấu tạo và kỹ thuật đóng ghe
Thân ghe bầu được thiết kế mũi và lái đều nhọn, bụng thuyền phình to, độ ngấn nước sâu để có thể đi biển dài ngày [1]. Vật liệu làm ghe bầu chủ yếu là tre và các loại gỗ [1].
Hệ thống bánh lái gồm các kiểu như lái cối, lái ống hoặc lái âm dương, có đặc điểm chung là sỏ lái xuyên trực tiếp vào bánh lái [1]. Ghe sử dụng ba cánh buồm gồm buồm mũi, buồm loan ở giữa và buồm cửu phía đuôi, có dạng hình tứ giác hoặc hình cánh dơi [1]. Nhằm giữ thăng bằng khi tải nặng và chạy nhanh, thợ đóng thuyền bố trí một đòn then đặt ngay sau cột buồm chĩa lên phía đón gió [1]. Phần mắt thuyền phía trước được tạo hình tròn, kéo dài và nhọn dần về đuôi mắt [1].
Tiếp thu kỹ thuật hàng hải Chăm
Theo học giả Nguyễn Văn Xuân và Nguyễn Bội Liên, thuyền ghe bầu miền Trung là sản phẩm của quá trình tiếp thu văn hóa Chăm của người Việt [1]. Nếu ghe bầu vùng Ninh Thuận và Bình Thuận bảo lưu nhiều yếu tố Mã Lai – Đa Đảo hơn, thì ghe bầu xứ Quảng là kết quả giao lưu trực tiếp giữa kỹ thuật đóng thuyền cổ truyền của người Việt và người Chăm [1].
Kỹ thuật này thể hiện ở sự kết hợp giữa cây xiếm di động đặt tại mũi thuyền, bánh lái nâng hạ thay đổi độ nông sâu ở đuôi thuyền, vỏ thuyền bằng mây tre và các cánh buồm xoay chuyển linh hoạt theo hướng gió [1]. Nhà nghiên cứu J.B. Piesttri trong cuốn sách “Thuyền buồm Đông Dương” nhận xét ghe bầu mang những đặc điểm tạo hình riêng của Việt Nam, tận dụng nguyên liệu địa phương để thích ứng với môi trường tự nhiên [1].
Kỹ thuật đi biển và vai trò giao thương
Ghe bầu di chuyển hoàn toàn bằng sức gió qua hệ thống buồm [1]. Để di chuyển khi gặp gió ngược hoặc thiếu gió, người lái ghe áp dụng kỹ thuật chạy “vát” hoặc chạy “ganh” bằng cách căng xiên buồm và đưa người ra ngồi giữ thăng bằng trên đòn ganh tùy theo độ nghiêng của thân thuyền [1].
Theo Phó Giáo sư Đỗ Bang, từ thời các chúa Nguyễn, mạng lưới ghe bầu hoạt động trên tuyến đường biển Bắc – Nam đã thúc đẩy sự hình thành của các cảng thị, chợ búa ven sông và ven biển, làm phát sinh nghề buôn cát lái [1]. Theo ông, ghe bầu cũng là phương tiện để đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải bảo vệ chủ quyền biển đảo vào thế kỷ 17 [1].
Tra cứu liên quan
- Làng nghề và đóng tàu: đóng ghe thuyền Kim Bồng, làng mộc Kim Bồng
- Dụng cụ đi biển: thúng chai xứ Quảng
- Nhân vật và nghề đi biển: cát lái ghe bầu làng Nguyễn Chỉ
- Vùng biển đảo liên quan: đặc khu Hoàng Sa
Điều còn chưa rõ
- Thông số kỹ thuật chi tiết về trọng tải tính theo tấn và kích thước dài rộng cụ thể của từng loại ghe bầu chưa được tài liệu nêu rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm chính xác chiếc ghe bầu buôn bán đường biển cuối cùng ngừng hoạt động tại xứ Quảng [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên gọi cụ thể các chủng loại gỗ rừng được dùng để đóng khung sườn ghe bầu trong nguồn bài báo chưa liệt kê chi tiết [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Ghe bầu trở lái về đông…”, 05/11/2022, https://baodanang.vn/ghe-bau-tro-lai-ve-dong-3026844.html, truy cập 24/10/2026.