Địa danh

Làng Trường An, huyện Hà Đông xưa

Làng Trường An xưa thuộc tổng Đức Tân, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ, nằm ở ven bờ nam sông Tam Kỳ [1]. Địa bàn làng trước tháng 7/2025 phần lớn thuộc xã Tam Xuân I cũ, nay thuộc xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng [1]. Nơi đây còn lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử như dải đá tự nhiên trên sông, bia phả hệ họ Trần và ký ức về phong trào chống sưu thuế năm 1908 [1].

Từ Đường An đến Trường An

Theo bài viết của tác giả Phú Bình trên Báo Quảng Nam, làng có tên ban đầu là Đường An [1]. Trong địa bạ lập thời Gia Long, xã Đường An có tứ cận: phía đông giáp núi, phía tây giáp sông, phía nam giáp xã Trường Miên, phía bắc giáp thôn Cây Vông [1]. Vị trí núi theo tác giả là núi Trà Quân ở phía tây nghĩa trang Gò Trầu của xã Tam Xuân I cũ; sông là quãng sông Tam Kỳ cách ngã ba sông khoảng 7 km về phía tây nam [1]. Xã Trường Miên sau đổi thành Trường Cửu, nay nằm dưới lòng hồ Phú Ninh; còn thôn Cây Vông đổi thành tên chữ Bích Ngô, nay thuộc hai thôn Bích Ngô và Bích Tân của xã Tam Xuân I cũ (xem thêm làng Bích Ngô) [1].

Sách “Đồng Khánh địa dư chí” (1887 – 1888) ghi nhận tên xã Đường An thuộc tổng Đức Hòa, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình [1]. Bản đồ huyện Hà Đông trong sách này thể hiện xã Đường An nằm giữa các xã Khương Mỹ ở phía bắc, Bích Ngô ở phía đông, Trường Cửu ở phía nam và sông Tam Kỳ ở phía tây, tây bắc [1].

Tác giả cho biết chưa rõ thời điểm cụ thể làng Đường An đổi tên thành Trường An [1]. Bản đồ do người Pháp phát hành năm 1939 ghi tên xã Trường An tại đúng vị trí của xã Đường An thời Đồng Khánh [1]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương dẫn tài liệu từ tạp chí BAVH cho hay từ trước năm 1920 đã xuất hiện tên xã Trường An thuộc tổng Đức Tân (tách ra từ tổng Đức Hòa) thuộc phủ Tam Kỳ [1].

Các dấu tích trên thực địa

Sách “Đại Nam nhất thống chí” thời Nguyễn ghi nhận đập đá Đường An ở thượng lưu sông Tam Kỳ cách huyện lỵ Hà Đông 25 dặm về phía tây nam, nơi thuyền bè đến đó phải dừng [1]. Hiện nay đập cũ không còn dấu vết xây dựng mà chỉ còn một dải đá lớn tự nhiên chắn ngang lòng sông, từ đó hình thành địa danh xứ đất Đá Ngang lưu trong giấy tờ ruộng đất và văn cúng cổ truyền [1].

Từ di tích tháp Khương Mỹ ngược bờ nam sông Tam Kỳ lên khoảng 2 km là địa giới phía đông của làng xưa [1]. Tại khu vực này từng có miếu Ông ven đường (người qua lại phải cởi nón, xuống ngựa) và miếu Bà ở cách đó chừng 500 mét cạnh bờ sông [1]. Miếu Bà khi trùng tu còn giữ câu đối ghi lại việc người xưa lập miếu và cầu mong linh hiển giúp đỡ dân làng [1].

Ở giữa làng, cạnh đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, còn phần gốc sum sê của cây đa cổ thụ từng thuộc khuôn viên đình làng Trường An [1]. Theo lời ông Trần Ngọc Khanh (sinh năm 1939, ở thôn Bích An), dù đình làng bị hủy hoại trong chiến tranh, người dân vẫn duy trì tế lễ xuân thu dưới gốc cây đa này [1]. Hiện nay ngôi đình đã được phục dựng trên nền đất cũ [1].

Tấm bia phả hệ họ Trần năm 1858

Tại nhà thờ tộc Trần ở Trường An có lưu giữ bản phả hệ của 8 phái họ Trần khắc hai mặt trên một tấm bia đá kích thước 0,7 x 0,9 m [1]. Bia được lập vào tháng 7 năm Tự Đức thứ 11 (1858) [1]. Góc trên bên phải bia có tên ông Phó bảng Nguyễn Dục là người duyệt văn bia [1]. Dưới dòng niên hiệu có tên ông Trần Hưng Nhượng thuộc phái hai tộc Trần, người từng giữ chức sư phó dạy học trong cung thời vua Thiệu Trị [1].

Mặt trước của bia ghi gia hệ các đời thuộc 8 phái tộc Trần tại Đường An và các làng lân cận, dòng cuối ghi danh sách con cháu góp tiền mua đá và khắc bia [1]. Mặt sau bia ghi ngày giỗ các bậc bề trên tính từ ông Trần Ngọc Súy (người đứng tên lập bia) trở lên, kèm theo tên từng mảnh ruộng chia hoa lợi để phục vụ việc cúng tế [1]. Qua đó, văn bia cung cấp nhiều tên gọi xứ đất cổ trong khu vực [1].

Quê hương hai chí sĩ họ Dương

Làng Trường An là quê hương của hai anh em chí sĩ Dương Thưởng và Dương Thạc [1]. Bản án của chính quyền bảo hộ Pháp và Nam triều lưu trong Châu bản triều Nguyễn cùng cuốn “Thi tù tùng thoại” của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đều ghi rõ quê của hai ông là làng Trường An, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ [1]. Tác giả Phú Bình lưu ý một số nghiên cứu sau này ghi quê hai ông ở làng Chiên Đàn là sự nhầm lẫn [1].

Hai ông đều đỗ tú tài, từng đại diện cho dân làng gửi đơn lên tòa Công sứ Pháp tố cáo quan Tri phủ Tam Kỳ cùng hương chức tham nhũng, áp bức dân [1]. Khi phong trào cự sưu kháng thuế nổ ra năm 1908, chính quyền bảo hộ Pháp và triều đình Huế khép hai ông vào tội phản loạn [1]. Ông Dương Thạc bị đày ra đảo Côn Lôn, còn ông Dương Thưởng bị đày lên nhà tù Lao Bảo ở Quảng Trị; cả hai người đều qua đời trong ngục [1]. Người em út sau đó đưa con trai duy nhất của cụ Dương Thưởng lên vùng núi Thuận Yên thuộc huyện Hà Đông cũ lánh nạn [1].

Hiện nay, bàn thờ cụ Dương Thưởng, cụ Dương Thạc cùng các bậc tiền nhân họ Dương được thờ tại nhà ông Dương Hiến ở thôn Bích An; nhà ông Dương Ngọc Tiên (cháu đích tôn bốn đời của cụ Dương Thưởng) ở phía nam cầu Tam Kỳ cũ cũng có nơi thờ tự hai chí sĩ [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Thời điểm chính xác làng Đường An đổi tên thành Trường An trong giai đoạn 1906 – 1920 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh tính các vị thần được thờ tại di tích miếu Ông và miếu Bà ở ven sông Tam Kỳ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm mất chính xác của hai chí sĩ Dương Thưởng và Dương Thạc trong chốn lao tù [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Làng Trường An huyện Hà Đông xưa”, 11/06/2023, https://baodanang.vn/lang-truong-an-huyen-ha-dong-xua-3044627.html, truy cập 24/10/2026.