Địa danh

Làng Bích Ngô

Làng Bích Ngô thời Nguyễn thuộc tổng Đức Hòa, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam [1]. Vùng đất của làng xưa nay gồm thôn Bích Trung (trước 7/2025: xã Tam Xuân 1) cùng hai thôn Bích Ngô và Bích Nam (trước 7/2025: xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành), hiện nay thuộc xã Tam Xuân [1]. Ngôi làng nằm ở hữu ngạn sông Tam Kỳ, lưu giữ nhiều tư liệu địa bạ, văn bia dòng họ và các câu chuyện kể dân gian [1][2].

Tên gọi và giới cận thời Nguyễn

Trong địa bạ lập dưới triều vua Gia Long, địa danh này được ghi nhận với tên “thôn Cây Vông” [1]. Đến triều vua Minh Mạng, thôn được đổi sang tên chữ là “Bích Ngô”, trong đó từ “bích” có nghĩa là xanh, còn “ngô” chỉ loài cây vông đồng lá xanh [1]. Theo lời kể truyền miệng trong dân gian, buổi đầu khai phá vùng đất có hai thôn là Cây Vông và Cây Bồng cùng thuộc xã Đức Hòa mới lập [1]. Về sau, khi dân cư đông đúc và ruộng đất mở rộng, hai thôn phát triển thành quy mô làng độc lập: thôn Cây Bồng đổi thành làng Bồng Miêu (thuộc tổng Phước Lợi), còn thôn Cây Vông trở thành làng Bích Ngô (thuộc tổng Đức Hòa, về sau đổi tên là tổng Đức Tân) [1].

Về vị trí đầu thời Nguyễn, địa bạ Gia Long ghi nhận tứ cận của làng Bích Ngô: phía đông giáp xã Thạch Kiều, xã Phú Lân Đông và xã Phú Hưng (lấy đê làm ranh giới); phía tây giáp sông Tam Kỳ; phía nam giáp xã Đường An (sau đổi thành Trường An); phía bắc giáp xã Khương Mỹ – nơi có cụm tháp Khương Mỹ [1]. Cùng với các làng lân cận ở hữu ngạn sông Tam Kỳ, Bích Ngô vốn thuộc phạm vi đất phủ Tam Kỳ xưa [2].

Dấu tích tộc Nguyễn Tất và tư liệu dòng họ

Đại tộc họ Nguyễn Tất tại làng Bích Ngô hiện còn lưu giữ phần mộ hai vị thủy tổ ở phía đông nghĩa trang Gò Trầu (thuộc thôn Bích Ngô cũ) [1]. Tấm bia xi măng tại khu mộ được con cháu bốn phái trong dòng họ lập ngày 18/4 năm Bính Thân (1956) [1]. Mặt trước bia khắc đôi câu đối chữ Nôm: “Một nấm giữa trời ghi sự tích / Nghìn năm trong họ rõ nguồn cơn” [1]. Mặt sau bia có bài minh kể rằng cha con vị thủy tổ từ Nghệ An vào dinh Quảng Nam khai hoang lập ấp, đặt tên làng Đức Hòa rồi chia thành hai thôn Cây Vông và Cây Bồng; tiếp đó khai khẩn các xứ đồng Ma Vang, Trà Gò, Bàu Lăng, Gia Linh, đắp đập Sông Tiên và bòn vàng [1]. Bài thơ tám câu trên bia mô tả cảnh lưu dân khai phá ruộng nương, dựng đình, đắp đập ngăn hạn và đãi cát tìm vàng nạp thuế [1][2], phản ánh quá trình định cư tương tự ghi chép trong phả ký Tam Kỳ xưa [2].

Dưới thời Tự Đức, làng Bích Ngô có kinh tế phát triển và có người đỗ đạt [1]. Nhà hậu duệ ông Nguyễn An Hựu (ở thôn Bích An cũ) còn giữ văn bản ngày 1/4/1865 của hai quan Bố chánh sứ họ Đặng và Án sát sứ họ Lê xác nhận việc ông quyên góp 800 quan tiền để cứu trợ người nghèo [1]. Đến ngày 28 tháng 12 năm Tự Đức thứ 18 (1865), triều đình ban sắc phong thưởng cho thí sinh Nguyễn Hựu hàm Tòng cửu phẩm Văn giai [1]. Thân phụ của ông là cụ Nguyễn An Tế từng đỗ hai khoa thi nhiêu học, có văn bằng y sinh và theo lời hậu duệ từng làm thầy thuốc ngự y trong cung tại Huế [1]. Làng Đường An (sau đổi thành Trường An) giáp phía nam Bích Ngô là quê của chí sĩ Duy Tân Dương Thưởng.

Chuyện kể dân gian

Nhà giáo hưu trí Lê Văn Phu (ở thôn Phú Khê, mất năm 2019) đã sưu tầm nhiều tư liệu truyền khẩu ở dải đất ven sông Tam Kỳ, in trong tập “Chuyện cũ làng quê xưa” lưu hành nội bộ năm 2014 [1].

Theo chuyện “Con ngựa Hố vàng”, phía tây làng có vùng đồng ven rừng gọi là đồng Hố vàng; truyền thuyết địa phương kể rằng vào các đêm mùa hè thường thấy một con ngựa vàng hiện lên liếm các tảng đá, để lại vệt nước dãi kết tinh thành chỉ vàng giúp dân tìm được vàng hạt [1]. Câu chuyện phản ánh lời đồn dân gian về vỉa vàng vùng núi Bồng Miêu kéo dài đến vùng đồi đá Bích Ngô [1].

Chuyện “Lửa dậy làng Bích Ngô” kể về hiện tượng trong các tháng nắng kèm dông tố, lửa từ lòng đất bỗng nhiên phụt lên gây hỏa hoạn cháy nhà chứ không do bếp hay sấm sét [1]. Hiện tượng này khiến dân làng có tập tục tổ chức lễ tế thần lửa vào tháng Hai âm lịch hàng năm đầu mùa nắng [1]. Người dân địa phương cũng hình thành các tập quán phòng cháy nghiêm ngặt: dập tắt bếp lửa khi ra đồng, làm nhà bếp tách biệt với nhà chính và không tùy tiện sang nhà người khác xin lửa [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Niên đại cụ thể khi hai vị thủy tổ họ Nguyễn Tất rời Nghệ An vào vùng đất Quảng Nam chưa xác định được rõ ràng, văn bia năm 1956 chỉ ước lượng cách thời điểm dựng bia chừng năm đến sáu trăm năm [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thông tin cụ Nguyễn An Tế từng giữ chức ngự y trong hoàng cung ở Huế chỉ dựa trên lời truyền của con cháu trong dòng họ [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Hiện tượng tự nhiên của việc “lửa dậy” từ lòng đất trong các câu chuyện dân gian chưa có tài liệu khoa học ghi nhận hay giải thích cơ chế cụ thể [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Về Bích Ngô nghe kể chuyện xưa”, 16/07/2023, https://baodanang.vn/ve-bich-ngo-nghe-ke-chuyen-xua-3044616.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Xưa, ở ven sông Tam Kỳ”, 23/07/2016, https://baodanang.vn/xua-o-ven-song-tam-ky-3028703.html, truy cập 23/10/2026.