Bút danh Lưu Trùng Dương là một cách nhớ mẹ: bà họ Dương, mất khi ông mới lên 7 tuổi [1]. Tên khai sinh của ông là Lưu Quang Lũy, sinh năm 1930 tại Đà Nẵng [2]; ông là em ruột soạn giả Lưu Quang Thuận và chú ruột nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ [1][2][4].
Gia đình và những năm đi học
Theo SGGP, ông sinh ngày 5/5/1930 tại phường Hòa Thuận, quận Hải Châu (đơn vị trước 7/2025) [3]. Báo Tiền Phong lại gọi phường Hòa Quý (trước 7/2025: quận Ngũ Hành Sơn) là quê hương của gia đình họ Lưu [4].
Bài trên Báo Đà Nẵng do một người con của Lưu Quang Thuận viết cho biết khi mẹ mất, Lưu Quang Thuận 16 tuổi, còn ông mới lên 7 [1]. Cũng theo bài này, cả ba người con của ông sau này đều mang tên Dương [1]. SGGP nhắc tới nhà báo Lưu Phan (con ông), kiến trúc sư Lưu Hướng Dương và Lưu Thùy Dương [3].
Về chuyện ra Bắc, Báo Tiền Phong ghi năm 1940 [4], Báo Đà Nẵng ghi “đầu những năm 1940”: ông cùng anh trai rời Đà Nẵng ra Hà Nội, ông học Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An) [1]. Trước ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, ông về quê làm cán bộ tuyên truyền xung phong Quảng Nam – Đà Nẵng [1].
Nhập ngũ và thơ người lính
Theo thư gọi của tướng Cao Văn Khánh, thầy giáo cũ của ông thời học ở Huế, ông đi bộ từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi nhập ngũ ngày 5/5/1947 [1]. Nhà văn Đoàn Minh Tuấn viết rằng ông viết về anh bộ đội Cụ Hồ từ năm 1947 – 1948 [1].
Bài “Bài ca tự túc” được giải A Cuộc thi thơ miền Nam Trung Bộ năm 1948 [2]. “Tập thơ của người lính” (1949) được Giải thưởng văn học Phạm Văn Đồng; Báo Đà Nẵng dẫn lời Đoàn Minh Tuấn ghi năm 1950 [1], Tuổi Trẻ ghi giải miền Nam Trung Bộ 1950 – 1951 [2].
Ông từng là phóng viên mặt trận tại Liên khu V và Trưởng đoàn Nghệ thuật quân tình nguyện Việt Nam ở Lào [3]. Báo Đà Nẵng kể bước chân ông qua Đà Nẵng, Quảng Nam, Đường 9, Khe Sanh, Tây Nguyên và nước Lào [1].
Đầu năm 1974, đang ở chiến trường Khu V, ông phát hiện mắc ung thư vòm họng; điều trị ở quân y viện không đỡ, cấp trên đưa ông ra Bắc chữa bệnh, cùng đợt với nhà văn Phan Tứ [1]. Ông vượt qua bệnh và tiếp tục viết [1].
Tác phẩm và chức vụ
Tuổi Trẻ thống kê ông có 19 tập thơ, 15 tác phẩm văn xuôi, 9 kịch bản sân khấu – điện ảnh; 5 bài thơ đưa vào sách giáo khoa, 5 tác phẩm dịch ra tiếng nước ngoài, 20 bài được phổ nhạc và tổ khúc giao hưởng; 11 giải thưởng văn học [2]. SGGP ghi “khoảng 40 tác phẩm” [3], Tiền Phong ghi “hơn 40 tác phẩm” [4].
Các tác phẩm chính Báo Đà Nẵng liệt kê [1]:
- Thơ: Tập thơ của người lính (1949), Những người đáng yêu nhất (1960), Tình nguyện (1963), Nỗi nhớ màu xanh (1975), Trên đỉnh Núi Thành ta hát (1983), Bài thơ tình về chim hải âu (1988), Thơ tặng anh bộ đội Cụ Hồ, Bài ca người Đà Nẵng (2000).
- Văn xuôi: Kể chuyện giới tuyến (1960), Họ đi tìm thiên đường (1988), Con đường sắt vô hình (2001), Huyền thoại ở Đắk Xing (2003), Sống vì lý tưởng (2004), Lưu Trùng Dương – truyện – ký – tùy bút (2006).
Tập “Bài ca người Đà Nẵng” được giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2001 [2]. Năm 2012, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật [1][3].
Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Đà Nẵng; nguyên Phó Chủ tịch thường trực, Bí thư Đảng đoàn Hội Văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng, Tổng thư ký Hội Văn nghệ TP Đà Nẵng [2].
Những năm cuối và con đường mang tên ông
Theo SGGP, ông vào TP Hồ Chí Minh khi tuổi già đau yếu, để sống gần con cháu [3]. Ông mất lúc 8 giờ ngày 9/10/2014 (16/9 năm Giáp Ngọ) tại nhà riêng, sau 2 năm bệnh [2][3]. Linh cữu quàn tại tư gia số 92 Tân Sơn Hòa, phường 2, quận Tân Bình; lễ động quan sáng 12/10, hỏa táng tại Phúc An Viên [2].
Theo Tiền Phong ngày 20/4/2023, Sở Giao thông Vận tải Đà Nẵng vừa gắn biển đường Lưu Trùng Dương tại khu dân cư Bá Tùng, phường Hòa Quý (trước 7/2025: quận Ngũ Hành Sơn; nay thuộc phường Ngũ Hành Sơn); đường dài 520 m, giao với đường Võ Chí Công [4]. Đến thời điểm đó, gia đình ông có 4 người được đặt tên đường ở Đà Nẵng: ông, Lưu Quang Thuận, Lưu Quang Vũ và nhà thơ Xuân Quỳnh, vợ Lưu Quang Vũ [4]. Cả bốn đường đều ở quận Ngũ Hành Sơn (trước 7/2025); đường Lưu Quang Vũ đặt năm 2002, cũng ở Hòa Quý, cách đường Lưu Trùng Dương hơn 2 km [4].
Tra cứu liên quan
Điều còn chưa rõ
- Năm ra Hà Nội: Tiền Phong ghi 1940 [4], Báo Đà Nẵng ghi “đầu những năm 1940” [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Số tác phẩm: Tuổi Trẻ ghi 19 tập thơ, 15 văn xuôi, 9 kịch bản [2]; SGGP ghi khoảng 40 [3]; Tiền Phong ghi hơn 40 [4] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm Giải thưởng Phạm Văn Đồng: 1950 [1] hay đợt 1950 – 1951 [2]; tên tập thơ cũng được ghi khác nhau (“Tập thơ của người lính”, “Thơ của người lính”, “Tập thơ những người lính”) [1][2][4] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Số anh em: Báo Đà Nẵng ghi ông bà sinh 4 người con trai, chú thích ảnh cùng bài lại ghi “ba anh em họ Lưu” gặp nhau năm 1954 [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Nơi sinh phường Hòa Thuận (SGGP) và quê Hòa Quý (Tiền Phong) chưa được nguồn nào giải thích [3][4]; phường Hòa Thuận cũ nay thuộc phường nào chưa xác định [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 11/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Lưu Trùng Dương: Một đời thơ gắn bó với quê hương và đồng đội”, 14/11/2014, https://baodanang.vn/luu-trung-duong-mot-doi-tho-gan-bo-voi-que-huong-va-dong-doi-3287516.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Tuổi Trẻ, “Nhà thơ Lưu Trùng Dương qua đời”, 09/10/2014, https://tuoitre.vn/nha-tho-luu-trung-duong-qua-doi-656353.htm, truy cập 05/11/2026.
- Báo Sài Gòn Giải Phóng, “Nhà văn Lưu Trùng Dương – Đã ‘vượt trùng dương’ tới ‘thiên đường'”, 10/10/2014, https://www.sggp.org.vn/nha-van-luu-trung-duong-da-vuot-trung-duong-toi-thien-duong-post128800.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Tiền Phong, “Gia đình có 4 nghệ sĩ được đặt tên đường ở Đà Nẵng”, 20/04/2023, https://tienphong.vn/gia-dinh-co-4-nghe-si-duoc-dat-ten-duong-o-da-nang-post1527696.tpo, truy cập 05/11/2026.