Phạm Nhữ Dực là vị tướng thời Trần và thời Hồ, đảm nhận việc tổ chức đưa lưu dân vào khai khẩn vùng đất mới Thăng Hoa [2][3]. Ông được dân làng Đồng Tràm (nay thuộc xã Xuân Phú) tôn làm Tiền hiền [2]. Chắt nội của ông là Phạm Nhữ Tăng, người lên khai phá vùng đất phía tây, lập ra làng Hương Quế [2].
Nguồn gốc xuất thân
Theo các tài liệu và gia phả tộc Phạm ở Hương Quế, Phạm Nhữ Dực là con trai thứ năm của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần [1][2][3]. Quê gốc của dòng họ ở làng Phù Ủng, huyện Mỹ Hào, thừa tuyên Hải Dương (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hải Dương) [2][3]. Sau đó, tổ tiên chuyển vào sinh sống ở xã Lỗ Huyền, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, thừa tuyên Thanh Hoa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) [2][3]. Đến đời Phạm Nhữ Dực, ông chuyển vào định cư tại làng Đồng Tràm, xứ Thăng Hoa [2][3].
Sự nghiệp quân sự thời Trần và Hồ
Dưới thời các vua nhà Trần và nhà Hồ, Phạm Nhữ Dực từng nhiều lần tham gia chỉ huy quân đội ngăn chặn quân Chiêm Thành [3]. Năm Canh Thân (1380), khi quân Chiêm tấn công vùng Nghệ An, vua Trần Nghệ Tông cử Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly), Đỗ Tử Bình và Phạm Nhữ Dực đem quân nghênh chiến; cánh quân Chiêm thất bại tại sông Ngu (tức sông Lạch Trường) và phải rút lui [3]. Năm Nhâm Tuất (1382), quân Chiêm tiến ra Thanh Hóa, Lê Quý Ly cùng Phạm Nhữ Dực tổ chức vây đánh khiến đối phương phải thoái lui [3]. Tiếp đó, năm Tân Mùi (1391), khi đối phương xâm lấn Hóa Châu, vua Trần Nghệ Tông lại cử Lê Quý Ly và Phạm Nhữ Dực vào chặn đánh [3].
Dưới triều vua Trần Thuận Tông (1388 – 1398), Phạm Nhữ Dực được ban tước Hậu quân Trung đô Dực Nghĩa hầu [3].
Đến thời nhà Hồ, vào năm Nhâm Ngọ (1402) dưới triều Hồ Hán Thương, Phạm Nhữ Dực cùng Đỗ Mãn và Nguyễn Cảnh Chơn đem quân đánh Chiêm Thành [3]. Vua Chiêm xin hòa và nhượng hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy [3]. Nhà Hồ chia địa bàn mới chiếm được thành bốn châu gồm Thăng, Hoa, Tư và Nghĩa [3].
Di dân khai phá xứ Thăng Hoa
Năm Quý Mùi (1403), Hồ Hán Thương cử Phạm Nhữ Dực giữ chức Chánh Đô Án vũ sứ, cùng Phó Đô Tổng binh Nguyễn Cảnh Chơn cai quản châu Thăng Hoa [3]. Báo Tuổi Trẻ dẫn gia phả cho biết ông giữ chức Chánh Đô án Vũ sứ từ năm 1401 phụ trách công việc di dân ở dải đất Quảng Nam – Quảng Ngãi [1]. Một bài báo khác ghi nhận năm 1402 ông được Hồ Quý Ly cử làm Chánh Đô án phủ sứ phủ Thăng Hoa (phạm vi từ bờ nam sông Thu Bồn đến bờ bắc sông Bến Ván) lo việc di dân người Việt, vỗ an người Chiêm và khai khẩn đất đai [2].
Tại đây, ông tổ chức đưa các đợt lưu dân từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh vào khai hoang lập nghiệp, ổn định đời sống dân cư bản địa [3]. Gia đình ông dừng chân định cư tại làng Đồng Tràm thuộc phủ Thăng Hoa (về sau thuộc xã Hương An, huyện Quế Sơn; nay thuộc xã Xuân Phú) [2][3]. Thời Hồ Hán Thương, ông được gia phong chức Hậu quân Trung Đô Nam Dinh vũ trấn, Dực Nghĩa hầu [3].
Năm Đinh Hợi (1407), khi quân Minh tấn công Đại Ngu bắt giữ cha con Hồ Quý Ly, phía Chiêm Thành nhân thời cơ đánh chiếm lại vùng đất Thăng Hoa [3]. Phạm Nhữ Dực cùng người con trai trưởng là Phạm Đức Đề tiếp tục tổ chức lực lượng chống trả quân Chiêm [3].
Tôn vinh và di tích
Theo Báo Đà Nẵng, sau khi qua đời, Phạm Nhữ Dực được an táng tại làng Đồng Tràm [2][3]. Dân làng Đồng Tràm tôn kính suy tôn ông làm Tiền hiền của làng, đưa Đồng Tràm trở thành một trong những làng tiền hiền của vùng đất [2]. Dân chúng địa phương tôn vinh ông danh hiệu “Thượng Tướng Bình Chiêm” [3].
Vào thời các chúa Nguyễn, sau khi sáp nhập vùng đất Ninh Thuận và lập Dinh Thái Khang, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ghi nhận công lao những người đi đầu mở mang phương Nam nên đã truy phong Phạm Nhữ Dực là Thượng đẳng thần [3].
Gia phả họ Phạm cùng các tờ sắc phong từ các triều đại trước đây hiện còn được lưu giữ tại nhà thờ tộc Phạm làng Hương Quế (trước 7/2025: xã Quế Phú, huyện Quế Sơn; nay thuộc xã Xuân Phú) [1].
Tra cứu liên quan
- Nhân vật cùng tộc họ: Phạm Nhữ Tăng, danh nhân xứ Quảng
- Địa bàn và hành chính liên quan: xã Xuân Phú, huyện Quế Sơn 1836, sông Thu Bồn
Điều còn chưa rõ
- Năm mất của Phạm Nhữ Dực: bài báo năm 2017 ghi ông mất năm 1407 [2], trong khi bài báo năm 2018 ghi ông qua đời ngày mùng 4 tháng 10 năm Kỷ Sửu (1409) [3] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm bổ nhiệm chức vụ Chánh Đô Án vũ sứ: nguồn dẫn gia phả họ Phạm ghi năm 1401 [1], trong khi các tài liệu khác ghi năm 1402 [2] hoặc năm 1403 [3] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Quan hệ thế hệ giữa Phạm Nhữ Dực và Phạm Nhữ Tăng: bài báo năm 2018 trên Báo Tuổi Trẻ ghi Phạm Nhữ Tăng là cháu nội [1], trong khi hai bài viết trên Báo Đà Nẵng ghi là chắt nội (trải qua các thế hệ Phạm Đức Đề và Phạm Nhữ Dự) [2][3] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên gọi chức vụ quản lý di dân có văn bản chép là Chánh Đô Án vũ sứ [1][3], có nơi ghi Chánh Đô án phủ sứ [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Tuổi Trẻ, “Bảo vật của tổ tiên”, 17/02/2018, https://tuoitre.vn/nld/thoi-su/bao-vat-cua-to-tien-20180202095321552.htm, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Trận cãi để đời của dân làng Hương Quế”, 29/07/2017, https://baodanang.vn/tran-cai-de-doi-cua-dan-lang-huong-que-3096197.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Tộc Phạm Quế Sơn với cuộc mở cõi”, 17/11/2018, https://baodanang.vn/toc-pham-que-son-voi-cuoc-mo-coi-3086791.html, truy cập 23/10/2026.