Trong các lễ hội đình, miếu, nhà thờ tộc họ hay nghi lễ cúng tế tại xứ Quảng, những bài văn tế chữ Hán – Nôm được đặt trang trọng trên bàn thờ trước giờ hành lễ [1]. Văn tế được dùng để bày tỏ lòng kính trọng, thương tiếc đối với người đã khuất, hoặc ca ngợi công đức và cuộc đời của thần linh, anh hùng dân tộc [1]. Qua lời xưng tụng về tiền hiền khai khẩn hay hậu hiền khai cư, bài văn tế nhắc nhớ lịch sử lập làng và hành trình cội nguồn của từng dòng họ [1].
Cấu trúc ba phần của bài văn tế
Theo bài báo, một bài văn tế thông thường có kết cấu ba phần chính [1]. Phần mở đầu bắt đầu bằng chữ “Duy”, ghi rõ thời gian, địa điểm, người đứng chánh tế, bồi tế (chủ tế và tả hữu phân hiến) cùng tên những lễ vật dâng cúng [1].
Phần thứ hai bắt đầu bằng từ “Cảm cáo vu” hoặc “cảm chiêu cáo vu” [1]. Đây là phần thỉnh mời đối tượng được tế, gồm chư thần, chư tiên tổ hoặc chư âm linh [1].
Phần thứ ba bắt đầu bằng cụm từ “Viết cung duy”, là lời cầu mong và cầu khấn của cộng đồng [1]. Cuối bài văn tế luôn kết thúc bằng các cụm từ như “Phục duy cẩn cáo” hoặc “ngưỡng lại tôn thần”, cũng có thể là âm linh, anh linh hay chư tiên linh tùy theo đối tượng được mời [1]. Những trang văn tế này thường vang lên trong nghi lễ Kỳ yên [1].
Các lớp thần linh và đối tượng phụng cúng
Các văn bản văn tế và văn cúng xứ Quảng ghi nhận nhiều lớp thần linh khác nhau trong cùng một lễ tế [1]. Những vị thần được thỉnh mời gồm Đức Ngư ông (Cá Ông), Thiên Y A Na Diễn Ngọc phi, Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương, Thủy Long Thánh phi, Tứ Dương linh diệu, Thành hoàng bổn xứ, Quan Thánh, thổ địa và ngũ hành [1]. Theo tác giả bài báo, việc các yếu tố bản địa, Chăm, Nho, Phật và Lão cùng hiện diện phản ánh khả năng dung hợp văn hóa của cư dân địa phương [1].
Ngoài việc cúng tế tổ tiên và thần linh, xứ Quảng còn lưu truyền các văn bản như Văn tế tử sĩ, Văn tế âm hồn Vũng Nồm và Văn tế âm linh [1]. Những bài tế này hướng tới những người đã mất vì quê hương hoặc người đi biển gặp nạn [1]. Trong bài Văn tế âm hồn Vũng Nồm, người xưa gửi lời cầu mong phù trợ cho ngư dân qua câu văn “Một chén rượu nồng trên đất Việt” và xin thần linh che chở để ngư phủ bình an [1]. Tác giả bài báo nhận định việc cúng tế này thể hiện tấm lòng bao dung đối với người đã khuất [1].
Nguy cơ mai một và vấn đề bảo tồn
Nhiều văn bản Hán – Nôm đang đứng trước nguy cơ hư hỏng và thất lạc [1]. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng – Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng nhận định chiến tranh, thiên tai, thời gian cùng sự thay đổi đời sống đã tác động tiêu cực đến nguồn tư liệu này [1]. Bên cạnh đó, số người cao tuổi đọc hiểu chữ Hán, nắm điển tích và biết cách xướng văn tế ngày càng giảm [1].
Để giữ gìn di sản, bài báo nêu yêu cầu sưu tầm có hệ thống thông qua khảo sát, thống kê, chụp ảnh và số hóa văn bản tại đình làng, chùa, nhà thờ tộc, lăng miếu, vạn chài và nhà dân [1]. Các văn bản sau đó cần được phiên âm, dịch nghĩa và chú giải để phục vụ người đọc [1]. Bài báo cũng đề xuất xây dựng kho dữ liệu số ghi lại video thực hành nghi lễ, trình tự đánh chiêng trống, dâng lễ, giọng xướng đọc và các quy ước riêng của từng làng, từng dòng họ [1].
Tra cứu liên quan
- Nghi lễ và văn bản làng xã: giỗ tiền hiền xứ Quảng, gia phả xứ Quảng, hương ước xứ Quảng
- Tục thờ cúng ngư dân: lễ hội cầu ngư
- Không gian đình làng: đình Hải Châu, đình Túy Loan
Điều còn chưa rõ
- Danh mục chi tiết các bài văn tế cổ hiện còn tại từng đình làng, dòng họ chưa được thống kê đầy đủ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Quy mô và tiến độ xây dựng kho dữ liệu số về văn tế xứ Quảng chưa có báo cáo cụ thể [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Văn tế miền tâm tưởng”, 05/10/2026, https://baodanang.vn/van-te-mien-tam-tuong-3354170.html, truy cập 23/10/2026.