Tam Kỳ từng gọi một con sông, bến đò, đầm, chợ, làng và nhiều cấp đơn vị hành chính. Một bài nghiên cứu của Phú Bình cho rằng ngã ba sông Tam Kỳ có thể là gốc của tên gọi, nhưng cũng ghi lại những cách giải thích khác về ba cồn, ba gò hoặc ba ngả đường [1]. Đây là các giả thuyết, chưa phải một kết luận đã được xác lập.
Bốn cách giải thích tên gọi
Bài báo năm 2021 ghi lại ba cách giải thích đã được các nhà nghiên cứu đưa ra. “Kỳ” có thể được hiểu là cồn đất, vì vùng này có ba cồn lớn; hoặc là gò đất lớn, gắn với ba ngọn Quảng Phú, An Hà và Trà Cai. Một cách khác liên hệ tên gọi với ba ngả rẽ: ra biển, lên trung du và theo đường thiên lý [1].
Phú Bình đề xuất một hướng giải thích khác: tên Tam Kỳ bắt nguồn từ ngã ba sông. Tác giả đối chiếu cách gọi Tam Kỳ giang với các tên Ngũ Kỳ giang, Thất Kỳ giang trong *Đại Nam thực lục*, rồi suy rằng các tên ấy tương ứng với nơi sông chia thành ba, năm hoặc bảy nhánh [1]. Từ phép so sánh đó, ông cho rằng ngã ba sông ở Nam Quảng Nam có thể đã tạo ra địa danh Tam Kỳ.
Lập luận về ngã ba sông là giả thuyết của tác giả bài báo. Những cách lý giải về cồn, gò và ngả rẽ cũng được thuật lại như ý kiến nghiên cứu, không có chứng cứ được trình bày đủ để loại trừ các khả năng còn lại [1]. Vì vậy, nguồn gốc tên gọi hiện nên được mô tả như vấn đề còn tranh luận.
Tam Kỳ trong các tư liệu được bài báo dẫn
Theo bài viết, trước *Phủ biên tạp lục* của Lê Quý Đôn chưa tìm thấy thư tịch hoặc bản đồ ghi tên Tam Kỳ. Tác giả dẫn một tư liệu mang niên hiệu Cảnh Trị thứ 9, tương ứng năm 1699, ghi xã ven ngã ba sông là “vi tử tân lập Tam Kỳ xã”. Một tư liệu khác, mang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27, tương ứng năm 1766, ghi Tam Kỳ là tên một xã thuộc phủ Thăng Hoa [1].
Bài báo cho biết Nguyễn Khắc Thuần liệt kê nhiều nghĩa hành chính và địa danh của tên Tam Kỳ, từ sông, bến đò, đầm, chợ, nhà dịch trạm, làng, xã đến huyện, phủ, quận, thị xã, thành phố [1]. Tác giả bài báo bổ sung ngã ba sông vào danh sách và xem đây là điểm khởi nguyên. “Tam Kỳ” vì thế được dùng cho nhiều phạm vi khác nhau [1].
Từ xã Tam Kỳ đến phủ lỵ
Trước đầu thế kỷ 20, bài báo dùng “Tam Kỳ hẹp” để chỉ xã Tam Kỳ xưa, thuộc tổng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, sau đổi là Thăng Bình [1]. Phạm vi ấy được mô tả gồm các phường Hòa Hương, Phước Hòa, An Xuân và một phần An Mỹ của thành phố Tam Kỳ trước năm 2025 [1]. Bảng tra hiện hành quy đổi Hòa Hương cũ thành phường Hương Trà, An Mỹ và An Xuân cũ thành phường Tam Kỳ. Ranh giới Phước Hòa cũ chưa được xác định [CẦN KIỂM CHỨNG].
Đến năm 1906, theo bài báo, huyện Hà Đông tách khỏi phủ Thăng Bình, được nâng thành phủ Hà Đông rồi đổi tên thành phủ Tam Kỳ. Sau đó, phủ lỵ được đặt tại xã Tam Kỳ [1]. Từ đây, tên gọi có nghĩa hẹp là xã phủ lỵ và nghĩa rộng là phủ gồm nhiều tổng. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tác giả nhận xét rằng khi người dân nói Tam Kỳ thường hiểu theo nghĩa hẹp [1].
Tra cứu liên quan
- Địa bàn hiện nay: phường Tam Kỳ, phường Hương Trà, bảng tra phường xã Đà Nẵng
- Dấu tích và lịch sử: đình Hương Trà, dòng thời gian Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Bài báo trình bày nhiều giả thuyết về nguồn gốc tên Tam Kỳ, nhưng không cung cấp tài liệu đủ để xác quyết một giả thuyết [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Cần đối chiếu bản gốc các địa bạ, tư liệu năm 1699 và 1766 mà bài báo dẫn, cũng như cách định niên đại và tên gọi trong bản chép [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Địa giới xã Tam Kỳ xưa được mô tả theo một số phường cũ; phần Phước Hòa chưa được quy đổi chắc chắn sang đơn vị hiện hành [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Dấu xưa Tam Kỳ”, 19/9/2021, https://baodanang.vn/dau-xua-tam-ky-3065824.html, truy cập 23/10/2026.