Địa danh

Làng Nghi Sơn (Khe Môn), Quế Hiệp

Nằm ở độ cao hơn 150 m so với mực nước biển dưới chân dãy núi Hòn Tàu, thôn Nghi Sơn thuộc xã Quế Sơn Trung (trước 7/2025: xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) trước đây có tên là làng Khe Môn [1]. Ngôi làng vùng cận sơn này gắn với các đợt di dân từ đất Nghi Lộc (Nghệ An) vào thế kỷ XV, còn giữ khu rừng Cấm Miếu, lễ hội Khai Sơn mùng 8 tháng Giêng và từng là nơi ông Võ Chí Công bám trụ hoạt động từ cuối năm 1941 [1].

Từ Khe Môn xứ đến làng Nghi Sơn và hai mốc năm 1442, 1471

Địa thế vùng đất Nghi Sơn nhô ra từ dãy núi Hòn Tàu (xem thêm căn cứ Hòn Tàu) ở phía sau [1]. Về thời điểm các tộc họ đến khai phá và lập làng, các nguồn tư liệu địa phương ghi nhận hai mốc năm gắn với hai lớp cư dân từ vùng Nghi Lộc (Nghệ An) [1]:

  • Mốc năm 1442 (theo gia phả các tộc họ trong làng được bài báo năm 2013 của Hải Hàn dẫn lại): vào giữa thế kỷ XV (năm 1442), một số vị tiền nhân mang các họ Âu, Dương, Phùng có nguồn gốc từ phủ Thừa Tuyên (thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cũ) đã đến khai phá và lập nghiệp tại vùng đất Sơn Đào (tức vùng xã Quế Hiệp cũ) [1]. Trong quá trình mở đất, các vị tiền nhân lần theo con suối nhỏ tiến dần lên vùng đất cao hơn ở phía bắc để khai khẩn và đặt tên là Khe Môn xứ; theo sử tích địa phương, tên Khe Môn bắt nguồn từ việc tại các khe suối trong vùng có nhiều cây môn dại [1]. Cũng theo lời kể của các vị cao niên trong làng được bài báo ghi lại, nối tiếp các vị tiền nhân họ Âu, Dương, Phùng, các tộc họ gồm Lê, Đinh, Đỗ, Trần Đình, Ngô, Đoàn, Phạm, Võ, Nguyễn, Trần Phước và Trần Văn đã đến định cư, mở rộng vùng đất và đặt tên làng là Nghi Sơn để nhớ gốc tích Nghi Lộc của mình [1].
  • Mốc năm 1471 (theo sách “Quế Sơn, đất và người” của các tác giả Lê Thí, Phạm Úc, Trương Vũ Quỳnh, dẫn tại bài huyện Quế Sơn lập năm 1836): lịch sử làng Nghi Sơn (xã Quế Hiệp cũ) cho biết thế hệ thứ hai đến sinh sống thực sự tại làng và trở thành tiền hiền của làng thuộc các họ Lê, Đinh; những người này từ Nghi Lộc (Nghệ An) theo vua Lê đi bình Chiêm vào năm 1471, sau đó được triều đình yêu cầu ở lại khai phá vùng đất mới [2].

Để lưu giữ lịch sử hình thành và văn hóa của làng, Ban nhân dân thôn Nghi Sơn đã biên soạn tập sách “Lịch sử làng Nghi Sơn – Quế Hiệp” gồm 6 phần chính; theo bài báo năm 2013, đây là thôn đầu tiên trên địa bàn huyện Quế Sơn cũ hoàn thành tập sách lịch sử làng [1].

Rừng Cấm Miếu và lễ hội Khai Sơn mùng 8 tháng Giêng

Sinh sống ở vùng cận sơn, người dân làng Nghi Sơn duy trì tín ngưỡng thờ thần núi và thần rừng [1]. Các xóm trong làng đều lập miếu để thờ Thổ thần, Thổ công; trong đó, ngôi miếu làng gắn liền với khu rừng Cấm Miếu là nơi các tộc họ trong làng thờ tự chung [1]. Khu rừng Cấm Miếu được các thế hệ người dân trong làng nối tiếp nhau bảo tồn và giữ gìn cho đến nay [1].

Hằng năm, làng có hai kỳ lễ cúng chính gắn với tín ngưỡng thờ thần núi và tiền nhân [1]:

  • Ngày 23 tháng Chạp âm lịch: ngày lệ chung của toàn làng, tổ chức cúng miếu Ông, miếu Bà và lễ “tết” Thần núi bằng hương hoa, trà rượu để cầu bình an và mưa thuận gió hòa cho năm mới [1].
  • Ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch: làng tổ chức lễ hội Khai Sơn nhằm tri ân các vị tiền nhân, tiền hiền đã có công khai sơn phá thạch, tạo dựng làng xóm và dâng hương thần núi [1]. Đây cũng là dịp các chư tộc, người dân trong làng gặp mặt con cháu đầu xuân; phần hội diễn ra suốt ngày và đêm mùng 8 với các trò chơi dân gian, hoạt động thể thao và văn nghệ [1].

Căn cứ cách mạng và nơi hoạt động của ông Võ Chí Công

Trong lịch sử cách mạng trước năm 1945, từ những ngày đầu khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tổ chức Nông hội đỏ của cả xứ Sơn Đào đã được hình thành [1]. Đến tháng 11/1940, dưới tán cây bàng tại khu rừng Cấm Miếu, chi bộ Đảng của làng Nghi Sơn được thành lập với tên gọi Chi bộ Lạng Sơn, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng ở vùng tây Quế Sơn [1].

Từ cuối năm 1941, ông Võ Chí Công (bài báo ghi chức vụ lúc đó là Ủy viên Khu ủy 5) đã chọn làng Nghi Sơn làm địa bàn bám trụ hoạt động [1]. Các hang động, địa điểm trong khu rừng Cấm Miếu như hang Bà Gánh, động Cây Sanh và nổng Huấn trở thành nơi ông tổ chức các cuộc họp chỉ đạo phong trào cách mạng [1]. Đầu năm 1943, khi lực lượng đối phương phát hiện cơ sở, đưa quân lùng sục và bắn phá, phần lớn cơ sở cách mạng ở vùng tây Quế Sơn (bao gồm Chi bộ Lạng Sơn) phải tự giải tán hoặc di chuyển đi nơi khác; đến năm 1944, các cơ sở tại đây khôi phục hoạt động trở lại [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Mốc thời gian định cư đầu tiên tại làng được ghi nhận khác nhau giữa các nguồn: bài báo năm 2013 dẫn gia phả các tộc họ ghi năm 1442 (các họ Âu, Dương, Phùng đến trước, tiếp theo là các họ Lê, Đinh và các họ khác) [1], trong khi sách “Quế Sơn, đất và người” dẫn lịch sử làng Nghi Sơn nhấn mạnh thế hệ thứ hai đến định cư thực sự và trở thành tiền hiền là hai họ Lê, Đinh theo vua Lê bình Chiêm năm 1471 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bài báo năm 2013 viết có “12 tộc họ” đến định cư kế tiếp ba họ Âu, Dương, Phùng nhưng danh sách liệt kê trong câu chỉ có 11 tên họ và chi họ (Lê, Đinh, Đỗ, Trần Đình, Ngô, Đoàn, Phạm, Võ, Nguyễn, Trần Phước, Trần Văn), còn thiếu 1 họ chưa rõ tên [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm biên soạn cụ thể của tập sách “Lịch sử làng Nghi Sơn – Quế Hiệp” và diện tích hiện tại của khu rừng Cấm Miếu chưa được bài báo nêu chi tiết [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Làng Nghi Sơn – dấu ấn văn hóa, lịch sử”, 26/10/2013, https://baodanang.vn/lang-nghi-son-dau-an-van-hoa-lich-su-3121007.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Đất và người Quế Sơn”, 14/6/2015, https://baodanang.vn/dat-va-nguoi-que-son-3029027.html, truy cập 23/10/2026.