Tại cổng chính quay ra cửa rừng của nhiều làng người Cơ Tu xưa, bên cạnh hệ thống rào chông và hào sâu luôn có một bức tượng gỗ hình người đàn ông mắt trợn tròn, răng nhe dữ tợn [1]. Bức tượng ấy được tạc bằng rìu và rựa đi rừng trong lễ rào làng định kỳ hai hoặc ba năm một lần, đóng vai trò như vị thần canh giữ cổng làng trước ma quỷ và những điều xấu [1].
Cấu trúc phòng thủ và cổng làng truyền thống
Theo truyền thống, người Cơ Tu cư trú thành từng làng nhỏ khoảng 30 – 40 nóc nhà, mỗi nhà cách nhau 5 – 7 m, xếp thành hình tròn hoặc bầu dục với chu vi chừng 1 km [1]. Giữa các làng có ranh giới tự nhiên như khu rừng, cây cổ thụ hoặc con suối lớn [1]. Một làng thường hội đủ đất ở, đất sản xuất, đất làm kho thóc, máng nước, nghĩa địa, sông suối và rừng chung để săn bắn, chăn nuôi, hái lâm sản; ở trung tâm có công trình cộng đồng là nhà gươl Cơ Tu [1]. Trong làng có nhiều dòng họ cùng chung sống, mỗi họ giữ sự tích và tập quán kiêng cữ riêng [1].
Xưa kia, người Cơ Tu xem làng là một khu dân cư phòng thủ kiên cố: bao quanh làng có hàng rào kín, hào sâu, bẫy và chông để chống thú dữ hoặc sự xâm nhập từ bên ngoài [1]. Làng chỉ mở một số cổng ra vào nhất định, trong đó cổng chính án ngữ trục đường đi thường quay về phía cửa rừng, được bảo vệ nghiêm ngặt và đặt một bức tượng gỗ giữ làng ở bên cạnh [1].
Theo tín ngưỡng dân gian của người Cơ Tu, việc rào làng và dựng tượng giữ làng không chỉ để phòng thủ mà còn nhằm ngăn ma quỷ hay “người chết xấu” vào phá làng, lấy lúa, đồng thời ngăn sâu mối ăn hại lúa giống đã tỉa và cản các thế lực xấu [1].
Cách tạc tượng và nghi lễ rào làng
Theo ông Bh’ling Hạnh (70 tuổi vào thời điểm bài báo năm 2019, cư trú tại thôn Công Dồn, xã Nam Giang; trước 7/2025 là xã Zuôih, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam), tục rào làng và dựng tượng giữ làng thường diễn ra vào tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch [1]. Tùy theo lệ của từng làng, nghi lễ này được tổ chức hai hoặc ba năm một lần [1].
Trước ngày làm lễ, già làng chọn ngày lành và họp bàn để cả cộng đồng thống nhất [1]. Đàn ông trong làng được phân công vào rừng chặt gỗ, lồ ô và dây mây về dựng cổng, đẽo tượng [1]. Tượng giữ làng do chính tay người đàn ông Cơ Tu trong làng tạc bằng chiếc rìu, cái rựa đi rừng; theo bài báo, nguyên liệu làm tượng dễ tìm [1]. Trên khúc gỗ hiện lên hình một người đàn ông có chân, hai tay liền vào thân, gương mặt dữ dằn với đôi mắt trợn tròn và hàm răng dữ tợn [1].
Song song với việc đẽo tượng của đàn ông, phụ nữ trong làng ra sông suối bắt cua, cá và chuẩn bị đồ ăn cho lễ cúng thần linh cùng bữa ăn chung của cả làng [1]. Lễ vật bắt buộc phải có cua, cá và trứng gà luộc chín, số lượng cụ thể tùy từng làng [1].
Nếu trong làng đang có khách từ nơi khác đến chơi, dân làng phải đợi khách ra khỏi làng hết và toàn bộ thành viên trong làng tập trung đầy đủ rồi mới tiến hành rào; bởi một khi đã đóng cổng rào làng thì không ai được phép đi ra ngoài [1]. Mọi lối đi từ đường vào rừng, đường lên rẫy đến đường sang làng khác đều được dựng cổng, còn vòng ngoài làng chăng dây lạt chẻ từ cây nứa có treo thòng lọng [1]. Các cổng phụ làm giản lược, riêng cổng chính được dựng công phu và trang trí tượng giữ làng [1].
Cấm kỵ sau lễ và ý nghĩa tâm linh
Trong buổi lễ, già làng đứng ngay tại cổng chính khấn mời thần linh chứng giám, cầu cho dân làng khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt, không để ma quỷ vào làng gây bệnh tật hay chết chóc [1]. Ngay sau khi hoàn tất việc rào làng và đặt tượng, nội bất xuất, ngoại bất nhập: người trong làng không được ra ngoài và người lạ không được vào làng vì sợ mang theo điều xui rủi; ai làm trái sẽ bị phạt theo lệ làng [1].
Ông Bh’ling Hạnh cho biết theo quan niệm truyền lại từ xưa, tượng giữ làng không chỉ là vật trang trí của ông bà Cơ Tu mà còn được tin là có khả năng dò xét, xua đuổi ma quỷ và nhận biết người trong làng có bụng xấu, tâm không trong sáng [1]. Người có ý xấu khi nhìn vào bức tượng sẽ nảy sinh cảm giác lo lắng, sợ hãi và bất an [1]. Bức tượng gỗ ở cổng chính vì thế được cộng đồng xem như một vị thần bảo vệ và là biểu tượng sức mạnh của ngôi làng [1].
Tra cứu liên quan
- Văn hóa và kiến trúc Cơ Tu: người Cơ Tu, nhà gươl Cơ Tu, điêu khắc gỗ Cơ Tu
- Địa bàn liên quan: xã Nam Giang, bảng tra phường, xã Đà Nẵng, quận, huyện cũ nay thuộc phường, xã nào
Điều còn chưa rõ
- Tên gọi cụ thể của loài cây rừng dùng để đẽo tượng giữ làng và tên gọi bức tượng bằng tiếng Cơ Tu không được bài báo nêu rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời gian kéo dài lệnh cấm người ra vào làng sau lễ rào làng và mức phạt cụ thể theo lệ làng ở từng địa phương chưa có thông tin chi tiết [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Hiện nay còn bao nhiêu thôn, làng người Cơ Tu tại xã Nam Giang và các xã miền núi phía tây Đà Nẵng duy trì nghi lễ rào làng kèm tạc tượng giữ làng định kỳ [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Tin tức và Dân tộc, “Tượng giữ làng của người Cơ Tu”, 28/1/2019, https://dantocmiennui.baotintuc.vn/tuong-giu-lang-cua-nguoi-co-tu-post1327411.html, truy cập 23/10/2026.