Công trình

Chùa Chúc Thánh Hội An

Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An
Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An. Ảnh minh hoạ: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Chùa Chúc Thánh (thường gọi là Tổ đình Chúc Thánh) nằm bên đường Tôn Đức Thắng, khối Tân Hòa, nay thuộc địa bàn phường Hội An Tây (trước tháng 7/2025: phường Tân An, thành phố Hội An) [1][2]. Đây là ngôi tổ đình khởi phát chi phái thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại miền Trung và lan rộng vào các tỉnh phía nam [1][2]. Bài viết các chùa cổ ở Hội An đã giới thiệu sơ lược về công trình; bài này đi sâu vào lịch sử khởi dựng, hệ thống kiến trúc và di vật của chùa [1][2].

Khởi dựng và các mốc thời gian

Theo hồ sơ kiểm kê của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An được Báo Đà Nẵng trích dẫn, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh hình thành trong bối cảnh các chúa Nguyễn mở mang và nâng đỡ Phật giáo ở Đàng Trong [1]. Đầu năm Ất Hợi 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh đoàn thiền sư Lâm Tế từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang truyền giới [1]. Đoàn gồm các thiền sư Thạch Liêm, Minh Hải, Minh Vật, Tử Dung, Minh Lượng, cập bến Cửa Đại vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch năm 1695 rồi ra Thuận Hóa [1]. Sau các khóa truyền giới ở Thuận Hóa và Hội An, đoàn dự định về nước nhưng bị gió chướng tại Cù Lao Chàm cản trở nên quay lại [1]. Đến tháng 6 năm Bính Tý 1696, sau đợt truyền giới ở chùa Thiên Mụ, thiền sư Thạch Liêm về nước, còn một số vị ở lại Đàng Trong; trong đó thiền sư Tử Dung lập chùa Ấn Tông ở Thuận Hóa, thiền sư Minh Lượng lập chùa Vạn Đức, còn thiền sư Minh Hải khai sơn chùa Chúc Thánh [1].

Về mốc lập chùa, các nguồn tư liệu có sự ghi chép khác nhau [1][2]. Báo Đà Nẵng dẫn tư liệu kiểm kê ghi rằng vào năm 1684, thiền sư Minh Hải đã chọn vùng cồn cát hoang sơ thuộc làng Thanh Hà (gần làng gốm Thanh Hà) để dựng thảo am tranh tre tu hành [1]. Trong khi đó, bài nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An dẫn sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang cho biết ngài sang Đàng Trong vào thời chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691), sau đó vào Hội An dựng chùa; nguồn này cũng dẫn thêm luận văn của Hạnh Thiên (năm 2001) ghi nhận mốc khai sơn chùa tại xã Cẩm Phô vào năm 1697 [2].

Về tên gọi “Chúc Thánh”, nguồn nghiên cứu nêu hai cách giải thích: thứ nhất là thiền sư Minh Hải bày tỏ lòng biết ơn sự quan tâm của các chúa Nguyễn nên đặt tên chúc cho đấng quân vương mọi sự tốt lành (phù hợp với câu kệ “Chúc Thánh thọ thiên cửu”); thứ hai là đặt theo tên một ngôi chùa Chúc Thánh bên Trung Quốc để hoài niệm cố hương, song giả thuyết thứ hai chưa có tư liệu kiểm chứng rõ ràng [1][2].

Tiểu sử Tổ sư Minh Hải

Theo tư liệu lưu trữ tại địa phương, Tổ sư Minh Hải tên khai sinh là Lương Thế Ân, sinh giờ Tuất ngày 28/6 năm Canh Tuất 1670 tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc [1]. Ông là con thứ trong gia đình có ba anh em, thân phụ là ông Lương Đôn Hậu, thân mẫu là bà Trần Thục Thận [1][2].

Năm 9 tuổi, ông xuất gia tu học tại chùa Bảo Tứ ở Phúc Kiến [1]. Đến năm 20 tuổi, ông thọ giới với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo, thuộc thế hệ thứ 34 dòng thiền Lâm Tế [1][2]. Ngày 7/11 năm Bính Dần 1746, thiền sư Minh Hải viên tịch, nhục thân được an táng trong bảo tháp tại khuôn viên chùa Chúc Thánh [1]. Đáng chú ý, trong vườn chùa còn có ngôi mộ của song thân ông là cụ Lương Đôn Hậu và cụ bà Trần Thục Thận nằm chếch về phía trước tháp Tổ [2]. Hằng năm vào ngày 7/11 âm lịch, chư tăng tổ chức lễ tưởng niệm ngày viên tịch của Tổ sư Minh Hải; cứ bốn năm một lần, môn đồ thiền phái Chúc Thánh từ các nơi tụ hội về tổ đình [1].

Quá trình trùng tu và kiến trúc

Khuôn viên chùa Chúc Thánh có chiều rộng khoảng 130 m, chiều sâu 96 m, nằm cách trung tâm phố cổ Hội An khoảng 1 km về hướng bắc [2]. Về mô hình kiến trúc, Báo Đà Nẵng mô tả công trình theo lối “tiền Công, hậu Quốc” [1]; còn bài nghiên cứu của cơ quan bảo tồn di sản ghi nhận bố cục theo mô hình chữ Tam, kết hợp giải pháp kiến trúc truyền thống Việt Nam và phong cách Trung Hoa [2].

Trải qua thời gian, ngôi chùa được mở rộng qua nhiều thế hệ trụ trì [1][2]: – Năm Ất Mùi 1845: Hòa thượng Toàn Nhâm (hiệu Quán Thông) tổ chức đại trùng tu, chuyển hướng chùa từ hướng chính tây sang hướng tây nam cho hợp phong thổ [1][2]. Năm 1849, ngài xây thêm Tiền đường để tăng gấp đôi diện tích Chánh điện [2]. – Năm Nhâm Thìn 1892: Hòa thượng Chương Đạo (hiệu Quảng Viên) tiếp tục tôn tạo Tiền đường với quy mô lớn hơn [1][2]. – Năm Giáp Ngọ 1894: Hòa thượng Chương Khoáng (hiệu Chứng Đạo, đời 38) cùng phó trụ trì Quảng Đạt xây dựng khu Hậu Tổ [1][2]. Cùng năm này, chùa tổ chức đúc quả Đại hồng chung cao 120 cm, đường kính 55 cm, trên thân khắc niên đại và bài minh văn [2]. – Năm Tân Hợi 1911: Hòa thượng Ấn Bính (hiệu Phổ Bảo, đời 39) đại trùng tu Chánh điện, tôn cao nền Tiền đường và xây thêm hai dãy Đông đường, Tây đường [1][2]. – Giai đoạn 1954 – 1960: Hòa thượng Chơn Chứng (hiệu Thiện Quả, đời 40) trùng tu từng phần các hạng mục [1][2]. – Năm Tân Mùi 1991: Hòa thượng Như Truyện (hiệu Trí Nhãn, đời 40) nâng cấp bảo tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng [2]. Nguồn báo năm 2024 ghi tháp Tổ cao 12 m [1], trong khi tài liệu nghiên cứu năm 2019 ghi tháp cao 15 m [2].

Cổng tam quan của chùa xây hai tầng, đỉnh đắp đôi sư tử ngồi chầu mặt vào nhau, tầng dưới là mái ngói giả và mở ba lối đi, trên cổng giữa gắn biển “Sắc tứ Chúc Thánh tự môn” [2]. Chánh điện sử dụng hệ kết cấu gỗ kết hợp giữa thức “chồng rường giả thủ” và “cột trốn kẻ chuyền”, tường gạch dày khoảng 30 cm [2]. Mái lợp ngói âm dương uốn cong, đỉnh bờ nóc trang trí lưỡng long tranh châu cùng phù điêu chim phụng và kỳ lân [2]. Bên trong Chánh điện tôn trí tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Di Lặc, tượng Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền (cao 1,75 m), tượng 18 vị La Hán, Hộ Pháp và Tiêu Diện [2]. Phía sau là Hậu tẩm thờ tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát cưỡi sư tử cao 2 m, tiếp đến là khu Tổ đường thờ bài vị các đời tổ sư [2].

Trong vườn chùa có nhiều ngôi tháp mộ của các đời trụ trì quá cố (bài báo ghi 16 tháp, tài liệu nghiên cứu ghi trên dưới 20 tháp bia mộ) [1][2]. Năm 1991, chùa Chúc Thánh được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm khởi lập thảo am và khai sơn chùa: các tài liệu ghi nhận chênh lệch giữa các mốc năm 1684, giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691), sau chuyến đi năm 1695 – 1696, và năm 1697 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Mô hình kiến trúc mặt bằng: nguồn báo năm 2024 ghi kiến trúc “tiền Công, hậu Quốc”, trong khi tư liệu năm 2019 của trung tâm bảo tồn ghi mô hình chữ Tam [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Chiều cao tháp Tổ Minh Hải: bài báo năm 2024 ghi tháp cao 12 m, còn bài nghiên cứu năm 2019 ghi tháp 7 tầng cao 15 m [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Số lượng tháp mộ trong vườn: một nguồn ghi 16 ngôi tháp mộ, nguồn kia ghi trên dưới 20 bia tháp [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Tổ đình Chúc Thánh Hội An”, 24/08/2024, https://baodanang.vn/to-dinh-chuc-thanh-hoi-an-3160572.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, “Chùa Chúc Thánh Hội An (Quảng Nam)”, 05/06/2019, https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/chua-chuc-thanh-hoi-an-quang-nam-790.html, truy cập 23/10/2026.